Đây là những tín hiệu tích cực trên thị trường tiền tệ vừa được MBS ghi nhận trong Báo cáo thị trường tiền tệ tháng 4/2026 mới công bố.
Tỷ giá bớt căng nhưng áp lực chưa hết
Tháng 4/2026, tỷ giá USD/VND ghi nhận diễn biến ổn định hơn sau giai đoạn chịu áp lực mạnh trong quý I, khi chỉ số DXY hạ nhiệt và các biện pháp can thiệp của NHNN phát huy tác dụng.
Từ mức 99,9 điểm vào cuối tháng 3, chỉ số DXY liên tục giảm trong nửa đầu tháng 4 trong bối cảnh thị trường kỳ vọng căng thẳng Trung Đông hạ nhiệt sau khi hai bên đồng thuận ngừng bắn và Iran tuyên bố mở lại eo biển Hormuz. Đến giữa tháng 4, DXY giảm về mức thấp nhất kể từ cuối tháng 2, xuống còn 98,06 điểm, tương đương giảm 2% so với cuối tháng trước.
Tuy nhiên, đà giảm này không kéo dài khi đồng bạc xanh nhanh chóng phục hồi về mức 98,9 điểm vào cuối tháng, dù vẫn thấp hơn 1% so với cuối tháng 3 và tăng 0,7% so với đầu năm. Diễn biến này diễn ra trong bối cảnh đàm phán Mỹ - Iran thất bại, eo biển Hormuz bị đóng trở lại khiến giá dầu duy trì trên mức 100 USD/thùng.
Giá dầu tăng mạnh cũng kéo theo áp lực lạm phát tại Mỹ khi chỉ số PCE tháng 3 tăng 3,5% so với cùng kỳ, mức tăng mạnh nhất kể từ tháng 5/2023. Trước rủi ro lạm phát gia tăng, Fed cuối tháng 4 tiếp tục giữ nguyên phạm vi lãi suất ở mức 3,5% - 3,75%, đánh dấu lần thứ ba liên tiếp không điều chỉnh. Theo công cụ FedWatch của CME, thị trường hiện kỳ vọng Fed sẽ giữ nguyên lãi suất cho đến hết năm 2027.
Trong nước, nhờ DXY giảm và tác động từ các biện pháp điều hành của NHNN từ tháng 3, tỷ giá liên ngân hàng trong tháng 4 gần như đi ngang, dao động trong biên độ hẹp quanh mức 26.330 – 26.350 VND/USD. Đến cuối kỳ, tỷ giá liên ngân hàng ở mức 26.350 VND/USD, chỉ tăng nhẹ 0,04% so với cuối tháng trước và tăng 0,3% so với đầu năm.
Tỷ giá trung tâm cũng chỉ tăng nhẹ 0,04% lên mức 25.113 VND/USD, trong khi tỷ giá USD/VND trên thị trường tự do giảm mạnh 4,6% trong tháng, xuống còn 26.775 VND/USD, thấp hơn 0,6% so với đầu năm.
| |
Dù diễn biến ngắn hạn đã bớt căng thẳng, MBS cho rằng áp lực tỷ giá vẫn hiện hữu trong thời gian tới. Trước hết, giá dầu thế giới tăng mạnh do xung đột Trung Đông sẽ tiếp tục hỗ trợ đà tăng của đồng USD, qua đó tạo áp lực đáng kể lên tỷ giá USD/VND. Cùng với đó, kỳ vọng Fed tiếp tục trì hoãn việc giảm lãi suất, thậm chí khả năng tăng lãi suất nếu lạm phát chưa hạ nhiệt, cũng là yếu tố củng cố sức mạnh của đồng bạc xanh.
Ngoài ra, thặng dư thương mại đang thu hẹp khi nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu nhằm phục vụ hoạt động sản xuất. Dù xuất khẩu được kỳ vọng cải thiện từ cuối quý II khi bước vào mùa cao điểm, mức cải thiện của cán cân thương mại được dự báo khá khiêm tốn. Trong ngắn hạn, chi phí vận chuyển tăng mạnh cùng xu hướng giảm giá của đồng nội tệ trong bối cảnh USD phục hồi sẽ làm gia tăng rủi ro nhập khẩu lạm phát.
Theo đó, MBS dự báo tỷ giá USD/VND trong quý II/2026 sẽ dao động quanh vùng 26.350 - 26.700, tương ứng mức tăng 0,3% - 1,6% so với đầu năm.
Lãi suất huy động bắt đầu hạ nhiệt
Cùng với diễn biến tỷ giá ổn định hơn, thị trường tiền tệ tháng 4 cũng ghi nhận tín hiệu tích cực khi mặt bằng lãi suất huy động bắt đầu giảm sau chỉ đạo điều hành của NHNN.
Sau khi hút ròng gần 114,6 nghìn tỷ đồng trong tháng 3, ngay tuần đầu tháng 4, NHNN đã đảo chiều bơm ròng gần 110,2 nghìn tỷ đồng nhằm hỗ trợ thanh khoản hệ thống. Nhờ đó, lãi suất qua đêm liên ngân hàng từ mức 9,3% cuối tháng 3 đã giảm mạnh, xuống mức thấp nhất trong hơn một tháng là 3,75% vào ngày 24/4.
Bên cạnh động thái bơm ròng của NHNN, yếu tố mùa vụ cũng góp phần làm giảm áp lực thanh khoản khi nhu cầu tăng trưởng tín dụng thường tập trung vào cuối quý đã qua đi. Tuy nhiên, đến cuối tháng, lãi suất qua đêm tăng trở lại lên mức 6,3% trong bối cảnh nhu cầu chi tiêu của người dân tăng cao trước kỳ nghỉ lễ dài ngày.
Trong khi đó, lãi suất các kỳ hạn từ 1 tuần đến 1 tháng dao động ở mức 6,5% - 6,8% vào cuối tháng 4, còn lãi suất kỳ hạn 6 tháng duy trì ở mức 7,7%.
Tính chung trong tháng 4, NHNN đã bơm hơn 350,1 nghìn tỷ đồng qua kênh OMO với kỳ hạn từ 7 - 56 ngày và lãi suất 4,5%, trong khi lượng OMO đáo hạn đạt hơn 330,6 nghìn tỷ đồng. Như vậy, cơ quan điều hành đã bơm ròng hơn 19,5 nghìn tỷ đồng trong kỳ, đưa lượng OMO lưu hành trong hệ thống lên hơn 309,6 nghìn tỷ đồng, giảm 36,7% so với mức đỉnh thiết lập đầu tháng 2.
Đáng chú ý hơn cả là làn sóng giảm lãi suất huy động sau cuộc họp ngày 9/4 của NHNN với các ngân hàng thương mại nhằm triển khai công tác điều hành lãi suất trong bối cảnh mặt bằng huy động tăng nhanh trong quý đầu năm.
Ngay sau đó, nhiều ngân hàng như VCB, VPB, LPB… đã đồng loạt giảm lãi suất tiền gửi từ 0,2 - 0,5 điểm phần trăm, chủ yếu ở các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên. Động thái này cho thấy sự đồng thuận của hệ thống ngân hàng trong việc thực hiện chủ trương giảm mặt bằng lãi suất, qua đó hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.
| |
Theo khảo sát của MBS, đến cuối tháng 4, lãi suất kỳ hạn dưới 12 tháng cao nhất ở mức 8,7%/năm. Với kỳ hạn 12 tháng, Vikki Bank và NAB là hai ngân hàng có mức lãi suất cao nhất, cùng ở mức 8,8%/năm.
Trung bình lãi suất kỳ hạn 12 tháng của nhóm ngân hàng Tier 1 ở mức 8,16%, giảm 25 điểm cơ bản so với thời điểm trước chỉ đạo của NHNN. Trong khi đó, nhóm ngân hàng Tier 2 ở mức 8,45%, giảm 29 điểm cơ bản.
| |
Tính chung toàn hệ thống, trung bình lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng của các ngân hàng thương mại đến cuối tháng 4 ở mức 8,31%, giảm so với trước chỉ đạo điều hành nhưng vẫn tăng tới 2,53 điểm phần trăm so với đầu năm.
Điều này cho thấy, dù mặt bằng lãi suất đã bắt đầu hạ nhiệt, áp lực huy động vốn vẫn chưa thực sự biến mất khi mức tăng mạnh trong quý I vẫn để lại nền lãi suất cao. Việc duy trì thanh khoản ổn định và kiểm soát chi phí vốn vì thế sẽ tiếp tục là bài toán lớn của hệ thống ngân hàng trong những tháng tới.