Giữ vững “mỏ neo” ổn định trong thế cân bằng động

(ĐTCK) Năm 2026 mở ra trong một bối cảnh đặc biệt, khi nền kinh tế Việt Nam đồng thời đứng trước hai yêu cầu lớn: vừa phải đạt mục tiêu tăng trưởng cao, phấn đấu từ 10% trở lên; vừa phải giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát bình quân khoảng 4,5% và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế. Đây không chỉ là mục tiêu của riêng ngành ngân hàng, mà còn là bài toán điều hành kinh tế vĩ mô tổng thể của quốc gia.
Ông Phạm Chí Quang. Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước

Trong cấu trúc đó, chính sách tiền tệ giữ vai trò như “mỏ neo” ổn định của nền kinh tế. Nếu chính sách tài khóa mở rộng dư địa phát triển, đầu tư công đóng vai trò dẫn dắt, thì chính sách tiền tệ có nhiệm vụ giữ nhịp tăng trưởng và ổn định vĩ mô.

Vai trò này càng trở nên rõ nét hơn trong giai đoạn nền kinh tế phải vận hành trong thế “cân bằng động”: hỗ trợ tăng trưởng nhưng không được chủ quan với lạm phát; giảm lãi suất nhưng vẫn phải giữ ổn định tỷ giá; thúc đẩy tín dụng nhưng không để tích tụ rủi ro hệ thống. Đây không đơn thuần là câu chuyện kỹ thuật điều hành, mà còn là bài toán của niềm tin thị trường, kỳ vọng vĩ mô và năng lực phối hợp chính sách.

Bài toán “bộ ba bất khả thi”

Bước sang năm 2026, kinh tế thế giới tiếp tục đối diện với nhiều biến động phức tạp và khó dự báo hơn so với kỳ vọng trước đó của thị trường. Căng thẳng địa chính trị và gián đoạn chuỗi cung ứng năng lượng toàn cầu tiếp tục làm gia tăng áp lực lạm phát và biến động tài chính quốc tế. Tác động dây chuyền của những biến động này khiến áp lực lạm phát toàn cầu quay trở lại rõ rệt hơn.

Giữa tháng 4, IMF điều chỉnh dự báo lạm phát toàn cầu năm 2026 lên 4,4%, cao hơn mức 4,1% của năm 2025, buộc nhiều ngân hàng trung ương lớn, trong đó có Fed, phải thận trọng hơn trong điều hành chính sách tiền tệ. Việc duy trì mặt bằng lãi suất cao lâu hơn dự kiến kéo theo biến động mạnh về dòng vốn, tỷ giá và tâm lý thị trường tài chính toàn cầu.

Đối với Việt Nam, tác động càng phức tạp hơn do nền kinh tế có độ mở lớn và xuất khẩu phụ thuộc đáng kể vào khu vực FDI. Khi mặt bằng lãi suất quốc tế thay đổi, áp lực lên tỷ giá, dòng vốn, chi phí huy động vốn và kỳ vọng lạm phát trong nước cũng nhanh chóng thay đổi theo.

Trong bối cảnh đó, Việt Nam lại đang đứng trước một thời điểm rất quan trọng của chu kỳ phát triển mới. Năm 2026, Quốc hội đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế phấn đấu từ 10% trở lên, đồng thời tạo nền tảng cho tăng trưởng kinh tế ở mức 2 con số trong cả giai đoạn 2026-2030.

Đây là mục tiêu đầy tham vọng nhưng cần thiết trong bối cảnh cạnh tranh khu vực ngày càng gay gắt và yêu cầu bứt phá về năng suất, hạ tầng và chất lượng tăng trưởng ngày càng lớn.

Tuy nhiên, tăng trưởng cao thường đi kèm áp lực lạm phát gia tăng, qua đó tạo ra bài toán khó đối với công tác điều hành chính sách tiền tệ, không chỉ với Việt Nam mà còn là thách thức chung của nhiều quốc gia. Đây cũng là biểu hiện điển hình của bài toán “bộ ba bất khả thi”: vừa phải kiểm soát lạm phát, vừa hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, vừa giữ ổn định tỷ giá và thị trường tiền tệ.

Nếu nới lỏng quá mạnh để thúc đẩy tăng trưởng nhanh trong ngắn hạn, nguy cơ lạm phát quay trở lại, tỷ giá biến động mạnh, niềm tin vào đồng bản tệ giảm sút và mất ổn định kỳ vọng thị trường là rất lớn. Ngược lại, nếu quá thận trọng để giữ ổn định tuyệt đối, nền kinh tế có thể bỏ lỡ cơ hội phục hồi và tăng tốc trong giai đoạn rất quan trọng này.

Trong bối cảnh trên, quan điểm điều hành chính sách tiền tệ xuyên suốt của Ngân hàng Nhà nước là kiên định mục tiêu “ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng bền vững”, theo đó điều hành chính sách tiền tệ phải hướng đến mục tiêu hỗ trợ tăng trưởng kinh tế đi đôi với kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô, không đánh đổi ổn định để lấy tăng trưởng nhanh trong ngắn hạn.

Trong bối cảnh dư địa chính sách tiền tệ ngày càng thu hẹp, chính sách tiền tệ cần được đặt đúng vai trò: hỗ trợ và bổ trợ cho chính sách tài khóa, góp phần neo giữ kỳ vọng lạm phát và ổn định giá trị đồng tiền.

Động lực của tăng trưởng hai con số về dài hạn phải đến từ cải cách thể chế, đầu tư hạ tầng, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng suất lao động. Chính sách tiền tệ có nhiệm vụ giữ ổn định nền kinh tế trong thế cân bằng động của “bộ ba bất khả thi”.

Một điểm đặc biệt quan trọng trong điều hành chính sách tiền tệ là quản trị kỳ vọng thị trường. Tại Việt Nam, một tín hiệu điều hành thiếu nhất quán có thể tạo ra tác động tâm lý lớn hơn nhiều so với tác động thực tế của chính sách.

Nghệ thuật điều hành trong thế cân bằng động

Lãi suất là một trong những cấu phần hình thành chi phí hoạt động của doanh nghiệp. Khi chi phí vốn vay ở mức hợp lý, doanh nghiệp sẽ giảm được áp lực tài chính, gia tăng năng lực cạnh tranh và có thêm động lực mở rộng sản xuất - kinh doanh.

Từ năm 2023 đến nay, Ngân hàng Nhà nước đã nỗ lực duy trì lãi suất điều hành ở mức thấp nhằm hỗ trợ ổn định mặt bằng lãi suất thị trường, tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng tiếp cận nguồn vốn chi phí thấp, từ đó có cơ sở giảm lãi suất cho vay đối với nền kinh tế. Tuy nhiên, năm 2026 đặt ra bài toán phức tạp hơn rất nhiều.

Chính sách tiền tệ không phải là lực đẩy duy nhất, nhưng chắc chắn phải là điểm tựa ổn định nhất của nền kinh tế.

Đó là trong khi nền kinh tế cần mặt bằng lãi suất thấp để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế cao, chênh lệch lãi suất giữa đồng Việt Nam và USD lại phải được duy trì ở mức dương hợp lý để bảo đảm sức hấp dẫn của tiền đồng, hạn chế tình trạng đô la hóa và góp phần giảm áp lực lên tỷ giá.

Nếu lãi suất VND giảm quá nhanh trong khi Fed vẫn giữ nguyên mà không cắt giảm lãi suất, đồng USD tiếp tục duy trì sức mạnh trên thị trường quốc tế và là nơi “trú ẩn” trong phân bổ tài sản toàn cầu của nhà đầu tư, thì áp lực lên tỷ giá của các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam sẽ gia tăng đáng kể. Điều này có thể gây áp lực lên tỷ giá, làm tăng chi phí nhập khẩu và quay trở lại tạo áp lực lạm phát.

Đây là một bài toán cân bằng động rất khó có lời giải tường minh, khi các biến số (các mục tiêu chính sách) có tính đánh đổi với nhau.

Để xử lý bài toán đó, Ngân hàng Nhà nước đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp hỗ trợ thanh khoản hệ thống và điều tiết tiền tệ, tăng trưởng tín dụng theo hướng chủ động, linh hoạt để neo giữ được sự ổn định của mặt bằng lãi suất thị trường.

Thông qua nghiệp vụ thị trường mở, cơ quan điều hành đã cung ứng lượng vốn với kỳ hạn kéo dài tới 2 tháng nhằm hỗ trợ bình ổn thanh khoản thị trường liên ngân hàng và tạo hiệu ứng lan tỏa sang thị trường huy động vốn.

Từ cuối quý I/2026, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các tổ chức tín dụng bình ổn mặt bằng lãi suất, cơ cấu lại nguồn vốn và giảm lãi suất huy động - cho vay nhằm tăng khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp và người dân.

Theo thống kê, hầu hết các ngân hàng thương mại đã điều chỉnh giảm lãi suất tiền gửi niêm yết khoảng 0,1-1%/năm; lãi suất tiền gửi bình quân của các khoản mới phát sinh hiện ở mức khoảng 5,7%, giảm khoảng 0,26% so với cuối tháng 3/2026. Lãi suất cho vay bình quân cũng đã bắt đầu có xu hướng giảm nhẹ.

Nếu sự lan tỏa của lãi suất tiền gửi giảm tiếp tục đi sâu vào cơ cấu nguồn vốn của các tổ chức tín dụng, mặt bằng lãi suất cho vay sẽ còn dư địa để giảm thêm, qua đó hỗ trợ tốt hơn cho doanh nghiệp và người dân, góp phần thúc đẩy hoạt động sản xuất - kinh doanh và tiêu dùng.

Tuy nhiên, giảm lãi suất không thể chỉ thuần túy dựa vào các biện pháp hành chính. Điều quan trọng nhất vẫn là cải thiện chất lượng thanh khoản hệ thống, giảm chi phí vốn đầu vào, nâng cao hiệu quả vận hành của các tổ chức tín dụng và giảm chi phí trung gian trong toàn bộ quá trình cung ứng tín dụng.

Xét rộng hơn, để giảm lãi suất, ngoài nỗ lực của hệ thống tổ chức tín dụng như đề cập ở trên, cần có những giải pháp mạnh mẽ nhằm nâng cao vị thế của đồng Việt Nam, kiểm soát và từng bước giảm áp lực lạm phát, qua đó củng cố niềm tin nắm giữ VND của người dân.

Vì vậy, cùng với điều hành lãi suất, Ngân hàng Nhà nước cũng yêu cầu các tổ chức tín dụng đẩy mạnh chuyển đổi số, đơn giản hóa thủ tục tín dụng, rút ngắn thời gian xét duyệt và nâng cao tính minh bạch trong tiếp cận vốn cho nền kinh tế.

Mục tiêu cuối cùng không chỉ là lãi suất thấp hơn, mà là một cấu trúc lãi suất hợp lý, bền vững và phản ánh đúng sức khỏe của nền kinh tế.

Khi chính sách tiền tệ không thể đi một mình

Tăng trưởng tín dụng luôn là một trong những chỉ báo quan trọng phản ánh sức hấp thụ vốn của nền kinh tế, nhất là tại một nền kinh tế mà nhu cầu vốn đầu tư của các chủ thể trong nền kinh tế phụ thuộc chủ yếu vào tín dụng ngân hàng như Việt Nam.

Năm 2026, Ngân hàng Nhà nước định hướng tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống khoảng 15%, đồng thời sẽ có điều chỉnh phù hợp với diễn biến thực tế để bảo đảm kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng. Con số này không đơn thuần là một chỉ tiêu định lượng, mà phản ánh rất rõ quan điểm điều hành: tín dụng phải tăng trưởng an toàn, hiệu quả và đúng địa chỉ.

Trong một nền kinh tế mà tỷ lệ tín dụng/GDP đã ở mức rất cao, khoảng 145% GDP (mức cao nhất trong nhóm các quốc gia có thu nhập trung bình thấp) thì việc mở rộng tín dụng bằng mọi giá không còn là lựa chọn phù hợp cho Việt Nam trong chặng đường phát triển tới đây, khi động lực tăng trưởng cần được đặt trên nền tảng đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và khoa học công nghệ.

Chính sách tiền tệ có nhiệm vụ giữ nền kinh tế ổn định trong thế cân bằng động của "bộ ba bất khả thi" để những động lực tăng trưởng phát huy tối đa vai trò.

Nếu dòng vốn không đi vào khu vực sản xuất thực, không tạo ra năng suất mới để có thể có khả năng cạnh tranh ở cuộc chơi toàn cầu mà chỉ chảy vào các lĩnh vực đầu cơ hoặc tích tụ rủi ro tài sản, thì tăng trưởng tín dụng hôm nay sẽ trở thành áp lực nợ xấu của tương lai.

Vì vậy, định hướng chỉ đạo xuyên suốt của Ngân hàng Nhà nước là hướng dòng vốn tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, các lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế như xuất khẩu, công nghiệp chế biến chế tạo, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghệ cao, tăng trưởng xanh, chuyển đổi số, hạ tầng chiến lược và các dự án trọng điểm quốc gia.

Song song với đó là kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, đặc biệt là những lĩnh vực tiềm ẩn nguy cơ phát sinh nợ xấu trong trung và dài hạn.

Bên cạnh đó, ngay từ ngày 31/12/2025, Ngân hàng Nhà nước đã công khai, minh bạch nguyên tắc giao và điều hành chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2026 để các tổ chức tín dụng chủ động xây dựng kế hoạch kinh doanh thay vì phụ thuộc vào cơ chế phân bổ hành chính.

Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các tổ chức tín dụng tăng trưởng tín dụng phù hợp với năng lực quản trị rủi ro, thanh khoản và các tỷ lệ an toàn hoạt động. Do đó, cần nâng cao năng lực thẩm định và giám sát để phát hiện sớm rủi ro thay vì xử lý bị động khi nợ xấu hình thành.

Một nhiệm vụ rất quan trọng khác là tiếp tục đơn giản hóa thủ tục cấp tín dụng, áp dụng mạnh mẽ chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng để rút ngắn thời gian tiếp cận vốn, giảm chi phí hoạt động và tạo điều kiện giảm lãi suất cho vay một cách thực chất. Người dân và doanh nghiệp không chỉ cần vốn rẻ hơn, mà còn cần vốn nhanh hơn, minh bạch hơn và ổn định hơn.

Trong dài hạn, để giảm tải áp lực cân đối vốn cho nền kinh tế lên hệ thống ngân hàng, thị trường vốn phải phát triển mạnh hơn, đặc biệt là thị trường trái phiếu doanh nghiệp và các kênh dẫn vốn trung - dài hạn khác.

Ngân hàng không thể mãi là “người cho vay duy nhất” của nền kinh tế khi mà quy mô của nền kinh tế ngày càng lớn, nhu cầu đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội ngày càng cao.

Một nền kinh tế tăng trưởng hai con số bền vững cần một cấu trúc tài chính cân bằng, an toàn và bền vững hơn; trong đó chính sách tài khóa đóng vai trò mở rộng và dẫn dắt, thị trường vốn đảm nhiệm chức năng chính trong cung ứng vốn trung dài hạn, còn chính sách tiền tệ giữ vai trò neo giữ ổn định và bảo đảm niềm tin thị trường.

Đó cũng là cách tiếp cận căn bản để giải bài toán lớn nhất của năm 2026: tăng trưởng cao nhưng không bất ổn, phát triển nhanh nhưng không đánh đổi nền tảng dài hạn. Trong thế cân bằng động ấy, chính sách tiền tệ không phải là lực đẩy duy nhất, nhưng chắc chắn phải là điểm tựa ổn định nhất.

Và đó cũng chính là trách nhiệm lớn nhất của công tác điều hành chính sách tiền tệ hiện nay: giữ vững “mỏ neo” ổn định để nền kinh tế đủ niềm tin bước vào một chu kỳ tăng trưởng mới đầy thách thức nhưng cũng mở ra những cơ hội lớn.

Phạm Chí Quang

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục