Nền kinh tế Việt Nam hiện nay vẫn phụ thuộc lớn vào vốn tín dụng ngân hàng.
Áp lực từ nền kinh tế “thâm dụng tín dụng”
Theo ông Nguyễn Phi Lân, Vụ trưởng Vụ Dự báo, Thống kê và Ổn định tiền tệ - tài chính, Ngân hàng Nhà nước, nền kinh tế Việt Nam hiện vẫn phụ thuộc lớn vào vốn tín dụng ngân hàng.
Trong bối cảnh mặt bằng lãi suất quốc tế duy trì ở mức cao, Ngân hàng Nhà nước phải điều hành chính sách tiền tệ theo hướng chủ động, linh hoạt và thận trọng để vừa kiểm soát lạm phát, ổn định tỷ giá, vừa hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.
Trong 5 tháng đầu năm 2026, cơ quan điều hành tiếp tục giữ nguyên lãi suất điều hành nhằm tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng tiếp cận nguồn vốn chi phí thấp, qua đó hỗ trợ nền kinh tế.
Đến ngày 20/4/2026, lãi suất cho vay bình quân đối với các khoản vay mới giảm còn khoảng 8,38%/năm, thấp hơn 0,44 điểm phần trăm so với cuối năm 2025. Tuy nhiên, áp lực đối với hệ thống ngân hàng vẫn gia tăng khi chênh lệch giữa tăng trưởng tín dụng và huy động vốn có xu hướng mở rộng.
“Tỷ lệ tín dụng/GDP của Việt Nam hiện thuộc nhóm cao trong khu vực, phản ánh mức độ phụ thuộc lớn của nền kinh tế vào nguồn vốn ngân hàng và tiềm ẩn rủi ro đối với thanh khoản cũng như an toàn hệ thống nếu xuất hiện các cú sốc từ bên ngoài”, ông Lân nói và cho rằng, doanh nghiệp cần thay đổi tư duy phụ thuộc quá lớn vào vốn vay ngân hàng, chủ động đa dạng hóa nguồn vốn thông qua thị trường chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp, quỹ đầu tư, hợp tác công - tư và các hình thức huy động vốn trung dài hạn khác.
Cụ thể hơn, TS. Đỗ Thiên Anh Tuấn (Đại học Fulbright Việt Nam) cho biết, tính đến tháng 4/2026, tỷ lệ tín dụng/GDP của Việt Nam đã lên tới 145%, tương đương gần 19,4 triệu tỷ đồng dư nợ. Đây là mức rất cao đối với một nền kinh tế đang phát triển.
Trong khi đó, cấu trúc huy động vốn của nền kinh tế vẫn cho thấy sự mất cân đối lớn. Năm 2025, tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt khoảng 4,15 triệu tỷ đồng, tương đương 32,3% GDP. Tuy nhiên, tăng trưởng đầu tư vẫn chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước, tín dụng ngân hàng và vốn tự có của khu vực tư nhân.
Kênh huy động qua thị trường chứng khoán đóng góp khá hạn chế. Dù vốn hóa thị trường cổ phiếu và trái phiếu cuối năm 2025 đạt hơn 108% GDP nhưng khả năng huy động vốn mới cho đầu tư phát triển còn thấp.
Lượng vốn huy động qua kênh cổ phiếu chỉ tương đương chưa tới 1,2% GDP; trong khi, huy động vốn qua phát hành trái phiếu dù tăng 33,5% so với năm 2024, đạt gần 650.000 tỷ đồng, song trên 90% vẫn là phát hành riêng lẻ.
Đáng chú ý, ngân hàng, bất động sản và công ty chứng khoán chiếm hơn 90% tổng lượng phát hành. Nếu loại trừ ba nhóm này, lượng vốn trái phiếu thực sự chảy vào khu vực sản xuất còn rất hạn chế.
Theo các chuyên gia, sự lệ thuộc quá mức vào vốn vay ngân hàng cũng khiến doanh nghiệp dễ tổn thương hơn khi mặt bằng lãi suất biến động hoặc tín dụng bị siết lại. Bên cạnh đó, tình trạng sử dụng vốn ngắn hạn cho các mục tiêu đầu tư dài hạn tiếp tục là một rủi ro cấu trúc đối với khu vực doanh nghiệp.
Trong bối cảnh đó, việc phát triển cân bằng giữa tín dụng ngân hàng và các kênh dẫn vốn khác được xem là yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế.
Niềm tin là “nút mở” của thị trường
Bước sang năm 2026, nhu cầu vốn cho tăng trưởng kinh tế tiếp tục gia tăng mạnh. Theo TS. Đỗ Thiên Anh Tuấn, để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP khoảng 10% mỗi năm trong giai đoạn 2026 - 2030, Việt Nam cần lượng vốn đầu tư rất lớn, ước tính khoảng 40 triệu tỷ đồng nếu tính cả yếu tố lạm phát.
Việc nền kinh tế phụ thuộc quá lớn vào tín dụng ngân hàng không chỉ tạo áp lực lên hệ thống tài chính mà còn hạn chế khả năng huy động vốn trung và dài hạn cho doanh nghiệp.
Riêng TP.HCM, nhu cầu vốn đầu tư năm 2026 có thể lên tới 1,18 triệu tỷ đồng nhằm phục vụ mục tiêu tăng trưởng hai con số. Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng vốn của nền kinh tế đang có dấu hiệu suy giảm, đồng nghĩa với việc phải bỏ ra lượng vốn lớn hơn để tạo ra cùng một mức tăng trưởng.
Trong khi đó, định hướng điều hành của Ngân hàng Nhà nước cho năm 2026 là kiểm soát tăng trưởng tín dụng quanh mức 15%, thấp hơn năm trước nhằm duy trì ổn định vĩ mô. Điều này đồng nghĩa tín dụng ngân hàng khó có thể tiếp tục “gánh” toàn bộ nhu cầu vốn của nền kinh tế như trước.
Theo tính toán của các chuyên gia, phần vốn thiếu hụt cần được bù đắp từ thị trường vốn, đặc biệt là thị trường cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp.
Để làm được điều này, Việt Nam cần tái cấu trúc thị trường vốn theo hướng tăng phát hành ra công chúng, mở rộng vai trò của doanh nghiệp sản xuất và đẩy nhanh quá trình nâng hạng thị trường chứng khoán nhằm thu hút dòng vốn ngoại.
Ông Phùng Xuân Minh, Chủ tịch HĐQT PT Group & Saigon Ratings cho biết, sau giai đoạn biến động mạnh 2022 - 2024, thị trường trái phiếu doanh nghiệp đã có dấu hiệu phục hồi rõ hơn từ năm 2025.
Theo Saigon Ratings, dư nợ trái phiếu doanh nghiệp hiện khoảng 1.413.000 tỷ đồng, tương đương khoảng 11,4% GDP, vẫn thấp hơn đáng kể so với mức đỉnh 18,3% GDP giai đoạn 2020 - 2021 và thấp hơn mục tiêu 20% GDP mà Chính phủ từng đặt ra.
Điều này cho thấy dư địa phát triển của thị trường còn lớn. Tuy nhiên, năm 2026 được dự báo sẽ không còn là giai đoạn tăng trưởng bằng mọi giá. Bên cạnh đó, áp lực đáo hạn trái phiếu vẫn rất lớn, đặc biệt ở nhóm bất động sản. Riêng năm 2026, tổng giá trị trái phiếu đáo hạn ước khoảng 204.000 tỷ đồng; trong đó, doanh nghiệp bất động sản chiếm tới 61%.
Theo ông Minh, vấn đề cốt lõi của thị trường hiện nay không nằm ở quy mô phát hành, mà là niềm tin của nhà đầu tư. Niềm tin thị trường không thể hình thành chỉ bằng lãi suất cao, tài sản bảo đảm hay cam kết của tổ chức phát hành, mà cần phải được xây dựng trên ba nền tảng quan trọng: Minh bạch thông tin, chất lượng tín dụng và cơ chế bảo vệ nhà đầu tư.
Trong bối cảnh thị trường ngày càng phân hóa mạnh, các doanh nghiệp có đòn bẩy tài chính cao, dòng tiền yếu hoặc thiếu minh bạch sẽ gặp nhiều khó khăn hơn trong huy động vốn trung và dài hạn.
Để khơi thông thị trường trái phiếu doanh nghiệp, nhiều chuyên gia cho rằng, cần đưa xếp hạng tín nhiệm trở thành công cụ trọng tâm trong quản trị thị trường. Việc chuẩn hóa hệ thống xếp hạng sẽ giúp nhà đầu tư nhận diện rủi ro tốt hơn, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp xác định chi phí vốn phù hợp với năng lực tài chính.
Bên cạnh đó, trái phiếu doanh nghiệp cần được sử dụng đúng vai trò là công cụ huy động vốn trung và dài hạn cho đầu tư phát triển, thay vì phục vụ mục đích đảo nợ ngắn hạn. Các doanh nghiệp phát hành phải gắn kế hoạch huy động với dòng tiền, cơ cấu vốn, tài sản bảo đảm và khả năng trả nợ thực tế.
Ở góc độ chính sách, ông Minh đề xuất thúc đẩy phát hành ra công chúng, chuẩn hóa bản cáo bạch, nâng cao vai trò đại diện người sở hữu trái phiếu, kiểm soát chặt mục đích sử dụng vốn sau phát hành và phát triển thị trường thứ cấp minh bạch hơn.
Còn theo PGS. TS Nguyễn Hữu Huân, Đại học Kinh tế TP.HCM, trong giai đoạn tới, thị trường vốn và khu vực kinh tế tư nhân được kỳ vọng sẽ trở thành động lực quan trọng hơn của nền kinh tế, trong đó thị trường trái phiếu doanh nghiệp cần từng bước đóng vai trò là kênh dẫn vốn trung và dài hạn chủ lực bên cạnh hệ thống ngân hàng.