Dự thảo Thông tư của Bộ Khoa học và Công nghệ dự kiến ban hành năm 2026 nhằm quy định về quản lý đo lường và chất lượng đối với các loại vàng trang sức, mỹ nghệ, vàng miếng và vàng nguyên liệu. Nội dung trọng tâm bao gồm các tiêu chuẩn kỹ thuật về độ tinh khiết, hàm lượng vàng, cùng các yêu cầu khắt khe đối với thiết bị đo lường và phương pháp thử nghiệm xác định khối lượng.
Đồng thời, quy định chi tiết trách nhiệm của các đơn vị kinh doanh trong việc ghi nhãn hàng hóa, công bố tiêu chuẩn áp dụng và triển khai hệ thống truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Bên cạnh đó, dự thảo thiết lập quy trình kiểm tra nhà nước, lấy mẫu thử nghiệm và các biện pháp xử lý vi phạm để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trên thị trường. Đây là khung pháp lý quan trọng giúp thống nhất hoạt động sản xuất, nhập khẩu và lưu thông vàng tại Việt Nam theo các luật sửa đổi mới nhất.
Đo lường, quản lý chất lượng vàng
Dự thảo Thông tư này quy định về việc kiểm tra và quản lý đo lường, chất lượng đối với ba nhóm sản phẩm chính: vàng trang sức, mỹ nghệ (nhập khẩu, sản xuất, gia công, lưu thông); vàng miếng (nhập khẩu, sản xuất, lưu thông); và vàng nguyên liệu (nhập khẩu để sản xuất vàng miếng, vàng trang sức, mỹ nghệ hoặc bán cho các đơn vị được phép).
Đối tượng áp dụng bao gồm các tổ chức, cá nhân tham gia vào hoạt động kinh doanh vàng (nhập khẩu, sản xuất, gia công, mua, bán); các tổ chức kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm phương tiện đo và các cơ quan quản lý nhà nước liên quan.
Theo dự thảo Thông tư, đo lường là một trong những nội dung trọng tâm của dự thảo nhằm đảm bảo tính chính xác và công bằng trong giao dịch. Yêu cầu đối với cân và quả cân: Cân dùng để xác định khối lượng vàng phải có phạm vi đo và độ chính xác phù hợp. Cụ thể, mức cân phải tương ứng với giá trị độ chia kiểm (e) quy định (ví dụ: cân đến 200g phải có e ≤ 1 mg).
Các thiết bị này phải được kiểm định bởi tổ chức được chỉ định và giấy chứng nhận kiểm định phải còn hiệu lực. Sai số khối lượng: Khối lượng vàng thực tế không được nhỏ hơn khối lượng công bố. Dự thảo quy định chi tiết giới hạn sai số cho phép tùy theo khối lượng vàng (ví dụ: vàng từ 100g đến 200g có sai số cho phép là 56mg).
Thử nghiệm xác định hàm lượng vàng: Các phương tiện đo và thiết bị thử nghiệm phải được hiệu chuẩn bởi tổ chức được công nhận theo tiêu chuẩn TCVN ISO/IEC 17025. Chất chuẩn hàm lượng vàng cũng phải có giấy chứng nhận kết quả thử nghiệm hoặc so sánh còn thời hạn.
Dự thảo cũng đưa ra các tiêu chuẩn khắt khe về chất lượng để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Phân hạng vàng: Chất lượng vàng trang sức, mỹ nghệ được phân hạng theo độ tinh khiết (phần nghìn - ‰) hoặc Kara (K).
Việc quy đổi giữa hàm lượng vàng (%), độ tinh khiết (‰) và Kara được thực hiện theo bảng quy định (ví dụ: 24K tương đương 99,9%). Khi phân hạng theo Kara, nếu giá trị thực tế nằm giữa hai mức thì phải xếp vào hạng thấp hơn liền kề.
Đối với vàng miếng và vàng nguyên liệu: Vàng miếng và vàng nguyên liệu nhập khẩu phải có hàm lượng vàng từ 99,5% trở lên. Chất lượng thực tế không được thấp hơn tiêu chuẩn đã công bố. Vật liệu phụ và kim loại nền: Vật liệu hàn phải có độ tinh khiết tối thiểu tương đương với sản phẩm chính, trừ một số trường hợp đặc biệt (như dây chuyền sợi nhỏ dưới 1mm có thể dùng vật liệu hàn không chứa vàng).
Được phép dùng kim loại nền khác vàng để tăng độ bền cơ lý nhưng phải xử lý bề mặt để tránh nhầm lẫn và phải công bố rõ ràng. Sản phẩm có vật liệu nhồi, làm đầy phải được thông báo cụ thể là không làm hoàn toàn từ hợp kim vàng.
Dự thảo Thông tư cũng nêu, vàng trang sức không được chứa các thành phần độc hại vượt quá ngưỡng cho phép của pháp luật.
Các tổ chức, cá nhân phải tự thực hiện công bố tiêu chuẩn áp dụng và chịu trách nhiệm trước pháp luật. Thông tin công bố có thể được thể hiện tại nơi kinh doanh, trên bao bì, nhãn hàng hóa, tài liệu kèm theo hoặc website
Bên cạnh đó, phải thể hiện hàm lượng vàng/độ tinh khiết, mã ký hiệu tổ chức sản xuất và mã ký hiệu sản phẩm (trừ sản phẩm quá nhỏ dưới 1g). Trên nhãn đi kèm/bao bì: Phải đầy đủ tên hàng hóa, địa chỉ đơn vị chịu trách nhiệm, xuất xứ, khối lượng vàng, khối lượng vật gắn và thông tin cảnh báo. Ký hiệu đặc biệt: Dự thảo quy định các mã ký hiệu cụ thể như "G.P" (vàng bọc, mạ), "G.F" (nhồi vật liệu khác), "C" (lớp phủ phi kim loại trong suốt) để người dùng dễ nhận biết
Truy xuất nguồn gốc sản phẩm vàng
Dự thảo khuyến khích các đơn vị áp dụng hệ thống truy xuất nguồn gốc bằng mã QR, mã số mã vạch hoặc hệ thống thông tin điện tử. Các dữ liệu cần có bao gồm tên sản phẩm, đơn vị sản xuất/nhập khẩu, khối lượng, hàm lượng vàng và thời gian sản xuất.
Quy trình kiểm tra được quy định rõ ràng để đảm bảo tính khách quan và chính xác. Phương pháp không phá hủy (XRF): Dùng để kiểm tra nhanh hoặc sản phẩm có cấu trúc đồng nhất.
Phương pháp phá hủy (Hỏa luyện - Cupel hóa, ICP-OES): Áp dụng khi có tranh chấp, khiếu nại, vàng có độ tinh khiết cao (≥ 995‰) hoặc khi kết quả phương pháp không phá hủy có nghi ngờ. Kết quả của phương pháp phá hủy là căn cứ cuối cùng
Việc lấy mẫu phải đảm bảo tính minh bạch, khách quan. Nếu kết quả lần đầu không đạt, doanh nghiệp có quyền yêu cầu thử nghiệm lại tại một tổ chức khác được chỉ định. Cơ quan kiểm tra thực hiện mượn mẫu và phải hoàn trả sau khi thử nghiệm. Nếu mẫu bị phá hủy hoặc biến dạng, cơ quan kiểm tra phải chi trả chi phí gia công, đóng gói lại cho doanh nghiệp.
Tổ chức, cá nhân kinh doanh trong lĩnh vực vàng, trang sức phải tuân thủ các quy định về đo lường, chỉ kinh doanh vàng đúng chất lượng đã công bố, lưu giữ hồ sơ chất lượng và chịu sự kiểm tra của cơ quan chức năng.
Cơ quan quản lý gồm: Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia có trách nhiệm chỉ định các tổ chức thử nghiệm, phê duyệt mẫu phương tiện đo và chủ trì kiểm tra nhà nước. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo thực hiện kiểm tra, thanh tra và báo cáo định kỳ về tình hình chất lượng vàng trên địa bàn
Thông tư dự kiến có hiệu lực vào năm 2026 và sẽ thay thế Thông tư số 22/2013/TT-BKHCN.
Đối với các sản phẩm vàng đã lưu thông trước ngày Thông tư có hiệu lực, nếu đáp ứng các quy định cũ thì vẫn được tiếp tục lưu thông, đồng thời khuyến khích các đơn vị thực hiện theo các quy định mới về ghi nhãn và truy xuất nguồn gốc.