Ngân hàng thương mại Nhà nước và sứ mệnh dẫn dắt

(ĐTCK) Nhóm ngân hàng thương mại (NHTM) Nhà nước không chỉ là lực lượng chủ lực về quy mô, thị phần và năng lực cung ứng vốn, mà còn là “trụ đỡ” của ổn định tài chính - tiền tệ quốc gia, giữ vai trò dẫn dắt thị trường và truyền dẫn chính sách trong những giai đoạn nền kinh tế đối mặt với biến động và rủi ro.
Ông Nguyễn Phi Lân, Vụ trưởng Vụ Dự báo, thống kê - Ổn định tiền tệ, tài chính, Ngân hàng Nhà nước Ông Nguyễn Phi Lân, Vụ trưởng Vụ Dự báo, thống kê - Ổn định tiền tệ, tài chính, Ngân hàng Nhà nước

Từ vai trò cung ứng vốn đến “neo ổn định” của nền kinh tế

Chiến lược phát triển ngành ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 986/QĐ-TTg ngày 8/8/2018 đã đặt ra 2 mục tiêu tổng quát: Hiện đại hóa hoạt động của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) theo hướng hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; phát triển hệ thống các tổ chức tín dụng an toàn, lành mạnh, giữ vai trò chủ chốt trong ổn định tài chính và hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội.

Sau gần 8 năm triển khai, việc thực hiện Chiến lược đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần củng cố nền tảng kinh tế vĩ mô và nâng cao năng lực chống chịu của nền kinh tế trước các biến động bên ngoài.

Trong đó, hệ thống tiền tệ - ngân hàng tiếp tục giữ vai trò trọng yếu trong tổng thể hệ thống tài chính quốc gia. Đến cuối năm 2025, tổng tài sản của hệ thống ngân hàng đạt gần 28,08 triệu tỷ đồng, gấp khoảng 2 lần so với năm 2020 và tương đương khoảng 218,6% GDP. Hệ thống ngân hàng tiếp tục là kênh dẫn vốn chủ lực của nền kinh tế khi cung cấp gần 2/3 tổng nguồn vốn toàn xã hội.

Quy mô vốn điều lệ, vốn chủ sở hữu của các tổ chức tín dụng không ngừng được củng cố; năng lực quản trị, điều hành và quản lý rủi ro từng bước được nâng lên, tiệm cận các chuẩn mực quốc tế.

Cùng với đó, đề án Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2021 - 2025 đạt nhiều kết quả tích cực, góp phần củng cố an toàn hệ thống và nâng cao niềm tin thị trường.

Tỷ lệ nợ xấu nội bảng, nợ bán cho Công ty TNHH một thành viên Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) chưa xử lý và nợ tiềm ẩn trở thành nợ xấu của toàn hệ thống (không bao gồm các ngân hàng yếu kém) duy trì dưới 3%.

Đặc biệt, cuối năm 2024 và đầu năm 2025, NHNN đã hoàn thành chuyển giao bắt buộc 4 ngân hàng yếu kém, góp phần giữ vững ổn định hệ thống các tổ chức tín dụng và củng cố niềm tin của người dân, doanh nghiệp đối với hệ thống ngân hàng.

Trong những kết quả chung đó, nhóm NHTM nhà nước tiếp tục khẳng định vai trò chủ lực, chủ đạo cả về quy mô hoạt động, thị phần, năng lực cung ứng vốn và khả năng dẫn dắt thị trường.

Đến cuối năm 2025, các NHTM nhà nước chiếm khoảng 40% tổng tài sản toàn hệ thống. Mỗi ngân hàng đều có quy mô tài sản vượt 2 triệu tỷ đồng. Với mạng lưới rộng khắp, gồm 1.411 chi nhánh và 3.652 phòng giao dịch, nhóm ngân hàng này tiếp tục giữ vai trò chủ lực trong huy động vốn từ tổ chức và dân cư, đồng thời cung ứng khoảng 43 - 44% tổng tín dụng toàn hệ thống trong giai đoạn 2021 - 2025.

Tuy nhiên, vai trò của các NHTM nhà nước không chỉ được đo bằng quy mô tài sản hay thị phần tín dụng. Trong một nền kinh tế mà tín dụng ngân hàng vẫn là kênh dẫn vốn chủ đạo, sức khỏe của các NHTM nhà nước không chỉ quyết định năng lực cung ứng vốn cho tăng trưởng, mà còn quyết định mức độ ổn định của toàn bộ hệ thống tài chính quốc gia.

Khác với nhiều ngân hàng thương mại thông thường, các NHTM nhà nước tại Việt Nam thực hiện 2 vai trò song hành: Vừa hoạt động theo cơ chế thị trường, vừa thực hiện các nhiệm vụ chính sách do Đảng, Chính phủ và NHNN giao phó.

Tính chất “2 vai” này tạo nên vị thế đặc thù của các NHTM nhà nước trong nền kinh tế. Trong những giai đoạn kinh tế khó khăn, các NHTM nhà nước luôn là lực lượng tiên phong triển khai các chương trình hỗ trợ nền kinh tế; chủ động giảm lãi suất cho vay; cơ cấu lại thời hạn trả nợ; hỗ trợ doanh nghiệp và người dân phục hồi sản xuất - kinh doanh; tham gia ổn định thị trường tiền tệ và bảo đảm thanh khoản hệ thống.

Không chỉ giữ vai trò chủ lực trong cung ứng vốn và ổn định thị trường, các NHTM nhà nước còn là lực lượng nòng cốt trong quá trình tái cơ cấu các tổ chức tín dụng yếu kém.

Ở góc độ rộng hơn, các NHTM nhà nước không đơn thuần là các định chế kinh doanh tiền tệ, mà còn là công cụ điều tiết vĩ mô quan trọng của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Vai trò này càng trở nên rõ nét trong bối cảnh môi trường quốc tế ngày càng bất định, các cú sốc bên ngoài có xu hướng lan truyền nhanh hơn và yêu cầu bảo đảm ổn định hệ thống tài chính - ngân hàng ngày càng cao hơn.

Trong một nền kinh tế hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững, các NHTM nhà nước vì thế không chỉ đóng vai trò “huyết mạch vốn”, mà đang ngày càng trở thành “neo ổn định” của nền kinh tế.

Sức chống chịu hệ thống và năng lực dẫn dắt chuẩn mực thị trường

Cùng với vai trò chủ lực về quy mô hoạt động, nhóm NHTM nhà nước thời gian qua cũng cho thấy sự cải thiện đáng kể về năng lực tài chính, quản trị rủi ro và chất lượng tài sản.

Đến cuối năm 2025, cả 4 ngân hàng trong nhóm đã triển khai áp dụng Thông tư số 41/2016/TT-NHNN về tỷ lệ an toàn vốn theo chuẩn Basel II và bắt đầu nghiên cứu triển khai Basel III theo quy định tại Thông tư số 14/2025/TT-NHNN. Tỷ lệ an toàn vốn (CAR) của nhóm NHTM nhà nước áp dụng Thông tư 41 đạt 10,08%.

Việc từng bước triển khai Basel III không đơn thuần là yêu cầu kỹ thuật trong quản trị ngân hàng. Đây thực chất là quá trình nâng cấp toàn diện năng lực quản trị rủi ro, quản trị vốn và sức chống chịu của hệ thống ngân hàng Việt Nam trước các cú sốc tài chính trong môi trường toàn cầu nhiều biến động.

Trong bối cảnh rủi ro tài chính toàn cầu ngày càng phức tạp, từ biến động lãi suất, tỷ giá, dòng vốn quốc tế... cho tới rủi ro công nghệ và an ninh mạng, năng lực vốn của các ngân hàng chủ lực không chỉ là vấn đề an toàn hoạt động của từng tổ chức tín dụng, mà gắn trực tiếp với an ninh tài chính quốc gia.

Một hệ thống ngân hàng muốn giữ vai trò dẫn vốn cho tăng trưởng cao thì trước hết phải có đủ năng lực hấp thụ rủi ro và duy trì niềm tin thị trường trong mọi điều kiện.

Nhằm củng cố nền tảng tài chính cho nhóm ngân hàng chủ lực này, từ năm 2021 đến nay, NHNN đã trình cấp có thẩm quyền phê duyệt tăng vốn điều lệ cho các tổ chức tín dụng do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn với tổng số tiền hơn 132.490 tỷ đồng từ nguồn ngân sách nhà nước cấp và lợi nhuận còn lại sau thuế.

Để tiến gần hơn tới nhóm ngân hàng hàng đầu khu vực, các NHTM nhà nước phải tiếp tục tăng tốc mạnh mẽ cả về quy mô và chất lượng hoạt động.

Để tiến gần hơn tới nhóm ngân hàng hàng đầu khu vực, các NHTM nhà nước phải tiếp tục tăng tốc mạnh mẽ cả về quy mô và chất lượng hoạt động.

Trong đó, Agribank được tăng thêm 17.100 tỷ đồng vốn điều lệ, Vietcombank tăng 46.468 tỷ đồng, BIDV tăng 28.484 tỷ đồng và VietinBank tăng 40.438 tỷ đồng.

Việc tăng cường năng lực vốn không chỉ nhằm đáp ứng các chuẩn mực an toàn vốn quốc tế, mà còn tạo điều kiện để các NHTM nhà nước mở rộng quy mô hoạt động, nâng cao năng lực cạnh tranh và duy trì vai trò điều tiết thị trường trong bối cảnh nhu cầu vốn của nền kinh tế ngày càng lớn.

Song song với đó, chất lượng tài sản của các NHTM nhà nước tiếp tục được cải thiện rõ nét. Giai đoạn từ năm 2021 đến tháng 12/2025, nhóm 4 NHTM nhà nước đã xử lý được khoảng 491.500 tỷ đồng nợ xấu, chiếm 35,2% tổng nợ xấu xử lý của toàn hệ thống. Đến cuối năm 2025, cả 4 ngân hàng trong nhóm không còn nợ tại VAMC chưa xử lý.

Đây không chỉ là kết quả về mặt tài chính, mà còn phản ánh sự cải thiện đáng kể về năng lực quản trị, quản trị rủi ro và chất lượng hoạt động của các NHTM nhà nước.

Trong nhóm này, Vietcombank tiếp tục duy trì chất lượng tài sản thuộc nhóm tốt nhất hệ thống, với tỷ lệ nợ xấu dưới 1% và được các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế đánh giá ngang trần quốc gia. Theo nhiều dự báo, đây có thể là ngân hàng Việt Nam đầu tiên tiệm cận Top 100 ngân hàng lớn nhất châu Á.

Đáng chú ý, kết quả kinh doanh của nhóm NHTM nhà nước cũng tiếp tục cho thấy sự cải thiện đáng kể về hiệu quả hoạt động.

Cụ thể, lợi nhuận sau thuế năm 2025 đạt khoảng 120.400 tỷ đồng, tăng 148,2% so với năm 2020 và chiếm khoảng 41,7% lợi nhuận toàn hệ thống. Tỷ lệ ROA và ROE lần lượt đạt 1,08% và 17,59%.

Đặc biệt, năm 2025 ghi nhận nhiều dấu mốc quan trọng về quy mô hoạt động của các NHTM nhà nước. VietinBank lần đầu tiên vượt mốc 100 tỷ USD tổng tài sản với quy mô khoảng 2,8 triệu tỷ đồng.

BIDV tiếp tục là ngân hàng có tổng tài sản lớn nhất Việt Nam với hơn 3,25 triệu tỷ đồng. Agribank đạt khoảng 2,6 triệu tỷ đồng tổng tài sản, trong khi Vietcombank đạt khoảng 2,5 triệu tỷ đồng.

Những con số này không chỉ phản ánh sự lớn mạnh về quy mô của các NHTM nhà nước, mà còn cho thấy sự hình thành ngày càng rõ nét của các định chế tài chính có vai trò dẫn dắt thị trường trong khu vực.

Không chỉ giữ vai trò chủ lực trong cung ứng vốn và ổn định thị trường, các NHTM nhà nước còn là lực lượng nòng cốt trong quá trình tái cơ cấu các tổ chức tín dụng yếu kém. Cuối năm 2024, NHNN đã ban hành quyết định chuyển giao bắt buộc Ngân hàng Xây dựng cho Vietcombank. Sau quá trình tiếp nhận và tái cơ cấu, ngân hàng này được đổi tên thành Ngân hàng TNHH một thành viên Ngoại thương Công nghệ số - VCBNeo.

Với sự hỗ trợ từ Vietcombank, VCBNeo đã từng bước kiện toàn bộ máy nhân sự, cơ cấu tổ chức và mô hình quản trị theo hướng tinh gọn, hiện đại hơn. Đến cuối năm 2025, tổng tài sản của VCBNeo tăng 281%; dư nợ cho vay khách hàng tăng 461% so với thời điểm chuyển giao.

Kết quả này tiếp tục khẳng định vai trò đặc biệt của các NHTM nhà nước như một lực lượng “giữ ổn định hệ thống”, không chỉ ở khía cạnh kinh doanh, mà còn ở năng lực hỗ trợ xử lý rủi ro, tái cơ cấu tổ chức tín dụng và củng cố niềm tin thị trường.

Trong một nền kinh tế có độ mở lớn và phụ thuộc nhiều vào tín dụng ngân hàng như Việt Nam, sức chống chịu của các NHTM nhà nước không chỉ là vấn đề của riêng ngành ngân hàng, mà gắn trực tiếp với năng lực chống chịu của toàn bộ nền kinh tế.

Nâng tầm cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu tăng trưởng hai con số gắn với mô hình tăng trưởng mới, đổi mới sáng tạo và khát vọng trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045.

Trong bối cảnh đó, yêu cầu đặt ra đối với các NHTM nhà nước không chỉ là tiếp tục mở rộng quy mô hoạt động, mà còn phải nâng cao năng lực quản trị, sức chống chịu rủi ro, năng lực công nghệ và khả năng dẫn dắt hệ thống theo các chuẩn mực quốc tế.

Để tiến gần hơn tới nhóm ngân hàng hàng đầu khu vực, các NHTM nhà nước phải tiếp tục tăng tốc mạnh mẽ cả về quy mô và chất lượng hoạt động.

Để tiến gần hơn tới nhóm ngân hàng hàng đầu khu vực, các NHTM nhà nước phải tiếp tục tăng tốc mạnh mẽ cả về quy mô và chất lượng hoạt động.

Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước đã đặt mục tiêu: Phấn đấu có ít nhất 3 NHTM nhà nước thuộc nhóm 100 ngân hàng lớn nhất châu Á về tổng tài sản; phát triển 4 NHTM nhà nước đi đầu, tiên phong về công nghệ, năng lực quản trị và khả năng điều tiết thị trường.

Tuy nhiên, đây cũng là mục tiêu đặt ra áp lực rất lớn. Theo số liệu của S&P Global Market Intelligence công bố cuối tháng 4/2025, tổng tài sản của Top 5 ngân hàng lớn nhất châu Á dao động từ 2.628-6.689 tỷ USD.

Trong khi đó, đến cuối năm 2025, Việt Nam mới chỉ có 3 ngân hàng chạm hoặc vượt mốc 100 tỷ USD tổng tài sản.

Khoảng cách này cho thấy, để tiến gần hơn tới nhóm ngân hàng hàng đầu khu vực, các NHTM nhà nước Việt Nam sẽ phải tiếp tục tăng tốc mạnh mẽ cả về quy mô, chất lượng hoạt động, năng lực quản trị và chuẩn mực vận hành. Quan trọng hơn, quá trình tăng trưởng trong giai đoạn tới không thể tiếp tục dựa chủ yếu vào mở rộng tín dụng.

Yêu cầu cốt lõi đối với các NHTM nhà nước là phải chuyển mạnh sang mô hình tăng trưởng theo chiều sâu, nâng cao chất lượng tài sản, hiệu quả phân bổ vốn, năng lực quản trị rủi ro và khả năng dẫn dắt chuẩn mực thị trường.

Điều này đòi hỏi các NHTM nhà nước phải đẩy mạnh áp dụng các chuẩn mực quản trị hiện đại; nâng cao năng lực quản trị rủi ro; tăng cường minh bạch thông tin và trách nhiệm giải trình; từng bước tiệm cận các chuẩn mực quốc tế về quản trị ngân hàng.

Bên cạnh đó, chuyển đổi số cũng sẽ là một trong những động lực quan trọng quyết định năng lực cạnh tranh của các NHTM nhà nước trong giai đoạn tới. Các ngân hàng cần xây dựng chiến lược chuyển đổi số toàn diện; số hóa dịch vụ, dữ liệu và quản trị vốn theo thời gian thực; phát triển mạnh các sản phẩm ngân hàng số và mở rộng khả năng cung ứng dịch vụ tài chính tới mọi vùng miền của đất nước. Trong một nền kinh tế số, năng lực công nghệ không còn chỉ là lợi thế cạnh tranh, mà đang trở thành điều kiện sống còn của các định chế tài chính.

Một trong những vấn đề then chốt khác là tăng cường năng lực tài chính cho các NHTM nhà nước.

Trong điều kiện các chuẩn mực an toàn vốn ngày càng cao, nhu cầu tín dụng của nền kinh tế tiếp tục lớn và vai trò điều tiết hệ thống ngày càng rõ nét, vốn cần được nhìn nhận không chỉ là nguồn lực phục vụ kinh doanh, mà còn là nền tảng chính sách để bảo đảm ổn định hệ thống và duy trì vai trò dẫn dắt thị trường của các NHTM nhà nước.

Theo đó, các cơ quan quản lý cần tiếp tục nghiên cứu các cơ chế tăng vốn linh hoạt cho các NHTM nhà nước như giữ lại lợi nhuận sau thuế và sau trích lập các quỹ; bổ sung vốn từ nguồn thoái vốn nhà nước; phát hành riêng lẻ; phát hành cổ phiếu ưu đãi, kể cả cho người lao động.

Cùng với đó, cần nghiên cứu cơ chế đặc thù cho các NHTM nhà nước nhằm phân định rõ giữa chức năng kinh doanh và nhiệm vụ chính sách; có cơ chế bù đắp phù hợp để các ngân hàng thực hiện vai trò điều tiết hệ thống một cách bền vững.

Việc đánh giá hiệu quả hoạt động của các NHTM nhà nước cũng cần được đổi mới theo hướng không chỉ dựa trên các chỉ tiêu lợi nhuận, hay tăng trưởng quy mô, mà cần bổ sung các tiêu chí phản ánh vai trò ổn định thị trường, năng lực chống chịu rủi ro, mức độ hội nhập quốc tế và đóng góp cho ổn định kinh tế vĩ mô.

Đặc biệt, trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt về công nghệ và nhân lực chất lượng cao, các NHTM nhà nước cần coi đầu tư cho con người là đầu tư chiến lược.

Việc xây dựng đội ngũ nhân sự có trình độ chuyên môn cao, năng lực quản trị hiện đại và khả năng thích ứng với môi trường tài chính số sẽ là yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững của các ngân hàng trong giai đoạn mới.

Nguyễn Phi Lân
Vụ trưởng Vụ Dự báo, thống kê - Ổn định tiền tệ, tài chính, Ngân hàng Nhà nước

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục