Khó có thể gắng thêm nữa
Những ngày gần đây, giá dầu thế giới bật tăng thẳng đứng khi xung đột Trung Đông leo thang từ hôm 28/2 đến nay, đã tác động mạnh đến giá dầu. Sáng 9/3, dầu Brent có lúc đã vượt 115 USD/thùng, dầu thô ngọt nhẹ Texas (WTI) đạt 114,36 USD/thùng - mức cao nhất kể từ tháng 7/2022.
Nguyên nhân của sự tăng giá là do lo ngại nguồn cung bị gián đoạn tại eo biển Hormuz - tuyến hàng hải vận chuyển khoảng 20% lượng dầu của thế giới. Ngoài ra, 20% lượng khí hóa lỏng (LNG) cũng đi qua tuyến này.
Trước tác động của giá thế giới, từ ngày 7/3, giá bán lẻ các mặt hàng xăng dầu trong nước tiếp tục phiên tăng giá thứ 2, đưa mức tăng cộng gộp 2 phiên điều hành (5/3 và 7/3) lên tới 15.000 đồng/lít đối với dầu hỏa, khiến mặt hàng này lập đỉnh trên 35.000 đồng/lít; diezel tăng 10.965 đồng/lít, lên trên 30.000 đồng; dầu mazut tăng 5.630 đồng/kg, vọt lên 21.327 đồng/kg.
Riêng mặt hàng xăng E5RON92 sau khi tăng 5.703 đồng/lít lên 25.226 đồng/lít, RON95 tăng 6.896 đồng/lít, hiện đã vượt 27.000 đồng/lít.
Là mặt hàng chiến lược, được ví như “mạch máu” của nền kinh tế, trực tiếp chi phối sản xuất, kinh doanh, giá cả hàng hóa và nhiều lĩnh vực của đời sống, khi giá xăng dầu leo thang, lập tức các ngành hàng đều đối mặt với khó khăn.
Chiều muộn ngày 9/3, lãnh đạo Tổng công ty Xi măng Việt Nam (Vicem) mới kết thúc cuộc họp đánh giá tác động của giá xăng dầu tới sản xuất, kinh doanh.
Chánh văn phòng Vicem, ông Hà Quang Hiện cho hay: “Giá nhiên liệu tăng cao tác động rất lớn đến sản xuất, kinh doanh của Vicem. Lãnh đạo doanh nghiệp đang họp bàn, nhưng vẫn chưa xong. Một phương án cũng được tính đến là tăng giá bán nhằm bù đắp chi phí đầu vào”.
Tăng giá ở mức nào, 100.000 hay 150.000 đồng cho mỗi tấn xi măng để không bị lỗ vẫn đang được nhà sản xuất này tính toán tiếp. Bởi theo ông Hiện, không chỉ xăng dầu tăng giá, Vicem hiện đã nhận được thông báo điều chỉnh tăng giá than ở mức hơn 10%, dự kiến áp dụng trong những ngày tới.
Về thời gian điều chỉnh giá xi măng cụ thể, đại diện Vicem nói thêm, sẽ còn họp với bộ phận thị trường, nhưng trong hệ thống Vicem, tùy địa bàn, có đơn vị sẽ tăng ngay trong nửa đầu tháng 3, có đơn vị tăng trong nửa cuối tháng 3.
Phó chủ tịch, kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Xi măng Việt Nam (VNCA), ông Lương Đức Long thông tin, trong tháng 2/2026, hàng chục doanh nghiệp xi măng đã công bố điều chỉnh giá bán xi măng, áp dụng đồng loạt từ ngày 1/3/2026 với mức tăng phổ biến 50.000 đồng/tấn. Tuy nhiên, với “cú hích” không mong muốn của giá xăng dầu, tác động mạnh đến vận chuyển của các doanh nghiệp trong ngành xi măng, thị trường những ngày tới đây sẽ tiếp tục đón nhận thông tin tăng giá từ các doanh nghiệp sản xuất.
“Sản xuất xi măng chủ yếu tiêu thụ than và điện lớn, còn xăng dầu có tác động mạnh đến hoạt động vận chuyển hàng hóa, nguyên liệu và thành phẩm của các doanh nghiệp, thành thử ảnh hưởng sẽ theo dây chuyền”, ông Long lý giải.
Thời gian qua, thị trường xi măng chứng kiến nhiều đợt tăng giá, nhưng mức tăng phổ biến chỉ 50.000-70.000 đồng/tấn, một số ít thương hiệu tăng 100.000 đồng/tấn. Các đợt tăng giá này là khi chưa xảy ra xung đột Trung Đông và mức này cũng chưa thể bù đắp được sự gia tăng của chi phí sản xuất. Do dư cung quá lớn, cạnh tranh ghìm giá giữa các nhà sản xuất nên cả một giai đoạn dài ngành xi măng tăng giá nhỏ giọt, song lần này thì khác, mức tăng nhiều khả năng sẽ lớn hơn.
“Bối cảnh hiện tại, nếu không sớm điều chỉnh, doanh nghiệp sẽ không có lãi, không đủ chi phí khấu hao để tái đầu tư và bảo trì sửa chữa, nối dài thua lỗ”, lãnh đạo một doanh nghiệp xi măng chia sẻ.
Một trong những ngành bị ảnh hưởng mạnh nhất là vận tải. Giá dầu tăng cao đang đẩy các doanh nghiệp vận tải vào thế khó, trong khi việc điều chỉnh giá cước lại không hề đơn giản vì phải qua thủ tục, quy trình báo cáo để được chấp thuận từ cơ quan quản lý.
Ông Hoàng Thái, chủ một hãng xe khách chạy tuyến Hà Nội - Sơn La - Điện Biên lo lắng, giá xăng dầu tăng mạnh trong 2 phiên điều hành gần nhất (5/3 và 7/3), mà giá vé vẫn chưa thể điều chỉnh tăng ngay, nên từ ngày 5/3 đến nay nhà xe chạy gần như lỗ.
Nhiên liệu các doanh nghiệp vận tải đang tiêu thụ lớn nhất là dầu diesel, trong khi đó mặt hàng này hiện đã ở ngưỡng trên 30.000 đồng/lít và nhiều khả năng sẽ còn tăng. Khi nhiên liệu tăng hơn 30%, kinh doanh vận tải không dám mơ có lãi.
“Thêm một vài ngày thì còn gắng gượng được, nhưng nếu kéo dài thêm cả chục ngày nữa thì doanh nghiệp không chịu nổi”, ông Thái nói.
Tương tự, ông Đặng Văn Chung, Phó chủ tịch Hiệp hội Vận tải ô tô Việt Nam bày tỏ, khó khăn nhất là vận tải hàng hóa, bởi chủ yếu tiêu thụ dầu. Hầu hết doanh nghiệp ký hợp đồng chạy cả năm, nhưng hợp đồng có quy định khi giá xăng dầu tăng 30% thì giá cước phải điều chỉnh. Những ngày qua, các chủ hàng đã chấp nhận điều chỉnh giá cước theo ngày để san sẻ với doanh nghiệp.
“Không tăng giá cước thì không trụ nổi”, ông Chung nói và thông tin thêm, doanh nghiệp vận tải tại Hải Phòng tính toán, cứ chạy 100 km thì lỗ 500.000 đồng, chạy 150 km thì lỗ 750.000 đồng. Chưa kể, khi giá dầu tăng, đầu mối cung cấp dầu cho doanh nghiệp vận tải yêu cầu trả tiền ngay, trong khi trước đây thanh toán trong vòng 1 tháng.
| |
Lo đủ nguồn cung ứng xăng dầu
Chiến sự tại Trung Đông làm tăng rủi ro nguồn cung dầu, kéo giá năng lượng toàn cầu tăng mạnh. Điều này khiến chi phí vận tải đường bộ, đường biển, hàng không đều tăng, các doanh nghiệp theo đó cũng phải “cân não” để duy trì sản xuất, kinh doanh, điều chỉnh mức giá sản phẩm, dịch vụ hợp lý. Nhưng không chỉ có vậy, với Việt Nam - quốc gia vẫn phụ thuộc đáng kể vào nhập khẩu dầu thô và xăng dầu thành phẩm, rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng do xung đột Trung Đông leo thang là hiện hữu.
Hiện nguồn cung trong nước trước mắt vẫn được đánh giá là ổn định, bởi 2 nhà máy lọc dầu lớn là Bình Sơn và Nghi Sơn đang duy trì hoạt động bình thường, cung cấp khoảng 70-80% nhu cầu xăng dầu của thị trường. Song mỗi năm, Việt Nam vẫn phải nhập khoảng 9-10 triệu tấn xăng dầu thành phẩm và hơn 14 triệu tấn dầu thô để phục vụ sản xuất.
Bộ Công thương đánh giá, mặc dù có 2 nhà máy lọc dầu, Việt Nam vẫn phụ thuộc lớn vào nguồn nhập khẩu. Nguy cơ thiếu hụt cục bộ xăng dầu tại một số địa phương là hoàn toàn có thể xảy ra. Năm ngoái, tổng nguồn xăng dầu tiêu thụ nội địa đạt khoảng 28,6 triệu m3/tấn, bình quân 2,2-2,3 triệu m3/tấn/tháng.
Do đó, Bộ khuyến nghị người dân, doanh nghiệp đóng góp thiết thực cho an ninh năng lượng quốc gia, ổn định kinh tế vĩ mô bằng cách tiết kiệm, sử dụng hiệu quả xăng dầu.
Trong bối cảnh rủi ro nguồn cung toàn cầu gia tăng, Chính phủ cũng cho phép huy động dầu thô trong nước để phục vụ các nhà máy lọc dầu thay vì xuất khẩu. Các doanh nghiệp đầu mối được yêu cầu tăng nhập khẩu, đa dạng hóa nguồn cung và duy trì dự trữ lưu thông theo quy định.
Chính phủ đã huy động khoảng 4 triệu thùng dầu từ các đối tác. Đồng thời, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã điện đàm với Thủ tướng Nhà nước Kuwait Sheikh Ahmed Abdullah Al-Ahmad Al-Sabah, đề nghị phối hợp với các đối tác liên quan xem xét tiếp tục cung ứng dầu thô cho Việt Nam.
Động thái mới nhất, trước căng thẳng tại Trung Đông, để tăng nguồn cung và ổn định thị trường, Chính phủ đã đồng ý giảm thuế nhập khẩu một số loại xăng dầu về 0%, áp dụng từ ngày 9/3 đến hết ngày 30/4/2026.
Cụ thể, theo Nghị định 72/2026/NĐ-CP sửa đổi thuế suất nhập khẩu ưu đãi (MFN) với một số mặt hàng xăng dầu và nguyên liệu đầu vào vừa được ban hành, mức thuế suất MFN được giảm từ 10% xuống 0% với xăng động cơ không pha chì (như RON 95) và các nguyên liệu pha chế xăng. Thuế này cũng hạ từ 7% xuống 0% với dầu diesel, nhiên liệu máy bay. Ngoài ra, một số nguyên liệu pha chế xăng, hóa dầu như naphtha, reformate, condensate... cũng được giảm thuế về 0%.
Việc điều chỉnh thuế nhập khẩu MFN là giải pháp giúp doanh nghiệp đầu mối có thêm động lực tìm kiếm, nhập khẩu xăng dầu từ các thị trường chưa có FTA với Việt Nam. Đây cũng là giải pháp nhằm ổn định nguồn cung, đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia.
Các giải pháp ứng phó kịp thời của Chính phủ và các bộ, ngành phần nào giải tỏa áp lực tăng giá xăng dầu, nhưng mong chờ nhất vẫn là xung đột Trung Đông sớm hạ nhiệt.