Việc hoàn thiện khung pháp lý để nâng cao hiệu quả kiểm soát thực phẩm là yêu cầu cấp thiết. Ảnh: Đức Thanh
Bộ Y tế yêu cầu chuẩn bị sẵn sàng
Thứ trưởng Bộ Y tế Đỗ Xuân Tuyên đã ký văn bản gửi Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cùng 18 hiệp hội ngành hàng, đề nghị khẩn trương thông tin tới doanh nghiệp để chuẩn bị các điều kiện cần thiết thực hiện Nghị định 46/2026/NĐ-CP và Nghị quyết 66.13/2026/NQ-CP từ ngày 16/4/2026.
Theo yêu cầu của Bộ Y tế, từ thời điểm này, doanh nghiệp cần chuẩn bị hồ sơ và thủ tục theo quy định mới liên quan đến công bố hợp quy thực phẩm, công bố tiêu chuẩn áp dụng đối với thực phẩm chế biến bao gói sẵn, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến, bao bì và dụng cụ tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm trong trường hợp chưa có quy chuẩn kỹ thuật hoặc chưa có tổ chức chứng nhận phù hợp quy chuẩn.
Các thủ tục như đăng ký bản công bố sản phẩm đối với các nhóm thực phẩm đặc thù, đăng ký giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm, ghi nhãn thực phẩm và đăng ký nội dung quảng cáo cũng sẽ phải thực hiện theo các quy định mới.
Đối với hàng nhập khẩu, doanh nghiệp được yêu cầu nộp hồ sơ đăng ký kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm trước khi lô hàng về đến cửa khẩu và thông báo địa điểm kho tập kết để cơ quan kiểm tra bố trí kế hoạch lấy mẫu, hạn chế nguy cơ ùn tắc tại cửa khẩu.
Song song với đó, Bộ Y tế cũng có Công văn số 1222/BYT-ATTP gửi UBND các tỉnh, thành phố, đề nghị khẩn trương phân công cơ quan thực hiện kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm và chỉ định các cơ sở kiểm nghiệm phục vụ công tác quản lý. Danh sách các cơ quan kiểm tra và cơ sở kiểm nghiệm phải được công khai trên cổng thông tin điện tử để doanh nghiệp thuận tiện tra cứu.
Về phía mình, Bộ Y tế đã công khai danh sách 6 cơ quan kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm nhập khẩu và 27 cơ sở kiểm nghiệm phục vụ quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm trên trang thông tin điện tử của Bộ.
Trước đó, Bộ Y tế đã có Công văn số 1318/2026/BYT-ATTP gửi các viện chuyên ngành (gồm Viện Kiểm nghiệm An toàn vệ sinh thực phẩm quốc gia, Viện Dinh dưỡng, Viện Pasteur Nha Trang, Viện Vệ sinh dịch tễ Tây Nguyên và Viện Y tế công cộng) đề nghị tăng cường năng lực kiểm nghiệm trong hoạt động giám sát các sản phẩm thực phẩm lưu thông trên thị trường. Bộ cũng yêu cầu các viện hỗ trợ cơ quan chuyên môn tuyến tỉnh triển khai kế hoạch kiểm tra, giám sát, hậu kiểm các sản phẩm lưu thông trên thị trường...
Có thể thấy, các bước chuẩn bị để đưa Nghị định 46/2026/NĐ-CP và Nghị quyết 66.13/2026/NQ-CP vào thực hiện sau thời gian tạm dừng đang được Bộ Y tế và các địa phương gấp rút triển khai.
Doanh nghiệp vẫn còn nhiều câu hỏi
Nhưng việc “chuẩn bị sẵn sàng triển khai” dường như vẫn chưa đồng nghĩa với việc các vướng mắc cốt lõi đã được tháo gỡ.
“Chúng tôi vẫn chưa thấy rõ các biện pháp để tháo gỡ vướng mắc, chưa thấy các cơ quan đánh giá khối lượng công việc sẽ thay đổi thế nào, khả năng giải quyết của cơ quan quản lý nhà nước, khả năng kiểm tra của cơ quan kiểm nghiệm giải quyết được bao nhiêu phần trăm, trong thời gian bao lâu, biện pháp xử lý thế nào...”, đại diện một hiệp hội doanh nghiệp lớn đặt vấn đề ngay khi được hỏi về văn bản của Bộ Y tế.
Vị đại diện này nhận định: “Nếu các quy định được áp dụng trở lại trong khi những vướng mắc vẫn còn, cú sốc đối với ngành thực phẩm có thể lặp lại như thời điểm cuối tháng 1/2026”.
Cũng cần nhắc lại, ngày 4/2/2026, một tuần sau thời điểm hiệu lực của Nghị định 46/2026/NĐ-CP và Nghị quyết số 66.13/2026/NQ-CP, Chính phủ đã buộc phải ban hành Nghị quyết số 09/2026/NQ-CP tạm ngưng hiệu lực và điều chỉnh thời hạn áp dụng của 2 văn bản trên để giải tỏa hàng trăm ngàn tấn thực phẩm bao gói sẵn, nguyên liệu, bao bì, phụ gia thực phẩm nhập khẩu cũng như nông sản, thực phẩm tươi sống ùn ứ tại các cảng, cửa khẩu. Nguyên nhân được xác định là việc triển khai các quy định mới chưa kèm hướng dẫn chi tiết và cơ chế chuyển tiếp khiến việc thực hiện rất khó khăn.
Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường vào thời điểm đó, nhiều lô hàng phải bổ sung khâu kiểm tra thực trạng và lấy mẫu kiểm nghiệm, kéo dài thời gian chờ kết quả 5-7 ngày. Hạn chế về kho bãi và điều kiện bảo quản tại cửa khẩu, nhất là cửa khẩu đường bộ, làm gia tăng nguy cơ hư hỏng và chi phí cho doanh nghiệp. Bên cạnh đó, quy định hiện hành chưa làm rõ chỉ tiêu kiểm nghiệm và tiêu chuẩn áp dụng với nông sản tươi, khiến cơ quan kiểm tra lẫn doanh nghiệp đều lúng túng...
Tuy nhiên, mối lo của cộng đồng kinh doanh lớn hơn rất nhiều.
Yêu cầu cấp thiết
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), mỗi năm thế giới ghi nhận khoảng 600 triệu ca mắc bệnh do thực phẩm không an toàn, trong đó có 420.000 ca tử vong. Trẻ em dưới 5 tuổi chiếm gần 30% số ca tử vong dù chỉ chiếm khoảng 9% dân số toàn cầu.
Các bệnh truyền qua thực phẩm không an toàn không chỉ gây ngộ độc cấp tính, mà còn có thể dẫn tới những hệ quả lâu dài như ung thư, tổn thương gan, thận hoặc rối loạn miễn dịch do tồn dư hóa chất, kim loại nặng hay vi sinh vật gây bệnh. Trong bối cảnh đó, việc hoàn thiện khung pháp lý để nâng cao hiệu quả kiểm soát thực phẩm là yêu cầu cấp thiết.
Chính trong ngày Công văn số 1403/BYT-ATTP được Bộ Y tế gửi doanh nghiệp, Chủ tịch VCCI Hồ Sỹ Hùng cũng đã ký Công văn tổng hợp khó khăn, vướng mắc trong triển khai Nghị định 46/2026/NĐ-CP và Nghị quyết số 66.13/2026/NQ-CP về quản lý an toàn thực phẩm gửi tới Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Phó thủ tướng Lê Thành Long, cùng Bộ trưởng Bộ Y tế, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ trưởng Bộ Công thương. Thông điệp chính là đề nghị tiếp tục tạm ngưng hiệu lực của 2 quy định trên.
Công văn dài với gần 6.000 chữ, một nửa trong đó giải trình rất chi tiết các vướng mắc, lý giải cho đề xuất của doanh nghiệp. 8 nhóm vướng mắc chính được liệt kê, gồm vướng mắc về thủ tục công bố và đăng ký sản phẩm; kiểm tra nhà nước đối với thực phẩm nhập khẩu; quy định chuyển tiếp và ghi nhãn hàng hóa, về quản lý thực phẩm bổ sung và định nghĩa kỹ thuật; đăng ký nội dung quảng cáo thực phẩm bổ sung, vướng mắc về yêu cầu truy xuất nguồn gốc thực phẩm; năng lực hệ thống kiểm nghiệm và vướng mắc về thiếu ổn định pháp lý và quy trình xây dựng văn bản.
Có rất nhiều nguyên nhân khiến việc chuẩn bị thực thi chưa tốt, như Nghị định 46/2026/NĐ-CP chuyển thẩm quyền kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm đối với thực phẩm nhập khẩu từ các cơ quan chuyên ngành trung ương về cho UBND cấp tỉnh theo phân cấp, trong khi các tỉnh, thành phố chưa được chuẩn bị về tổ chức, nhân lực, quy trình và cơ sở vật chất để tiếp nhận nhiệm vụ mới này.
Hay tăng quy trình kiểm tra nhà nước đối với thực phẩm nhập khẩu từ một bước thành ba bước, từ cơ quan có thẩm quyền cấp tỉnh quyết định phương thức kiểm tra và lấy mẫu; chuyển mẫu cho cơ sở kiểm nghiệm được chỉ định; đến bước kết quả kiểm nghiệm được gửi về cơ quan cấp tỉnh để cấp giấy xác nhận đạt yêu cầu nhập khẩu. Điều này dẫn đến tổng thời gian thông quan thực tế có thể kéo dài hàng tháng, phát sinh chi phí lưu kho, lưu bãi rất lớn và gây hư hỏng đặc biệt đối với nguyên liệu tươi sống...
Nhưng có những vướng mắc do sự không hợp lý trong các yêu cầu. Ví dụ hồ sơ kiểm tra nhà nước đối với thực phẩm nhập khẩu yêu cầu phải có bản tiêu chuẩn sản phẩm và giấy chứng nhận đáp ứng các quy định về an toàn thực phẩm do cơ quan có thẩm quyền của nước xuất khẩu cấp.
Trên thực tế, không phải tất cả quốc gia xuất khẩu đều cấp loại giấy chứng nhận theo mẫu và hình thức tương ứng, đặc biệt đối với các sản phẩm thông thường như đường mía, đường ngô, nước ép cam cô đặc, lá trà đã qua sơ chế. Đối với phụ gia thực phẩm nhập khẩu theo lô lớn, không tồn tại “bản tiêu chuẩn sản phẩm” ở cấp độ thành phẩm như cách hiểu thông thường, mà chỉ có tiêu chuẩn kỹ thuật hoặc thông số kỹ thuật của nhà sản xuất...
Đó là chưa kể, nhiều quy định trong Nghị định 46/2026/NĐ-CP và Nghị quyết 66.13/2026/NQ-CP đòi hỏi kết quả kiểm nghiệm từ các phòng kiểm nghiệm được chỉ định.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy, hệ thống kiểm nghiệm thực phẩm tại Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu về năng lực, số lượng và phương pháp kiểm nghiệm. Các đơn vị kiểm nghiệm nhà nước như Quatest, Viện Y tế công cộng chưa sẵn sàng về biểu mẫu theo Mẫu số 06, Nghị quyết 66.13/2026/NQ-CP, dẫn đến việc không thể cung cấp kết quả kiểm nghiệm cho doanh nghiệp, làm gián đoạn toàn bộ chuỗi thủ tục hành chính liên quan.
Thời gian trả kết quả kiểm nghiệm tại một số đơn vị có thể kéo dài từ 40 đến 45 ngày, chưa kể tình trạng từ chối tiếp nhận mẫu do e ngại trách nhiệm pháp lý.
Nếu triển khai đầy đủ Nghị định 46/2026/NĐ-CP từ ngày 15/4/2026, khối lượng kiểm nghiệm sẽ tăng đột biến, trong khi năng lực hệ thống hiện tại không thể đáp ứng, buộc nhiều doanh nghiệp phải gửi mẫu kiểm nghiệm ra nước ngoài với chi phí rất lớn.
Khi vướng mắc không chỉ nằm ở các câu chữ
Mặc dù sẽ phải đối mặt với nhiều thủ tục hơn, nhưng cộng đồng doanh nghiệp chưa bao giờ đứng ngoài nỗ lực của Chính phủ trong việc hoàn thiện khung pháp lý về an toàn thực phẩm, nhằm bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng, nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam và đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.
Trong các phát biểu cũng như văn bản của các hiệp hội doanh nghiệp góp ý chính sách quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm đều khẳng định, đây là nhiệm vụ quan trọng, cần được tăng cường và nâng cao hiệu lực, hiệu quả.
Tuy nhiên, trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Đậu Anh Tuấn, Phó tổng thư ký VCCI cho rằng, để đạt được mục tiêu đó, chính sách cần được xây dựng theo hướng quản lý rủi ro, tập trung vào các khâu có nguy cơ cao, tăng cường hậu kiểm thực chất, đồng thời bảo đảm tính khả thi và không gây đứt gãy chuỗi cung ứng.
“VCCI và cộng đồng doanh nghiệp nhất quán quan điểm rằng, tăng cường quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm là yêu cầu chính đáng và cần thiết. Bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng là mục tiêu tối thượng không thể thỏa hiệp”, ông Tuấn cho biết.
Đây là lý do khi gửi kiến nghị tới Thủ tướng Chính phủ và các bộ, ngành, cộng đồng kinh doanh không chỉ gửi các vấn đề đang đặt ra, mà mong muốn có những thay đổi thực sự đột phá trong lĩnh vực này.
Cụ thể, phải quản lý theo rủi ro, tăng cường hậu kiểm thực chất. Chính sách cần tập trung nguồn lực vào các khâu, các nhóm sản phẩm có nguy cơ cao thực sự đối với sức khỏe người tiêu dùng, thay vì áp dụng đồng loạt các thủ tục tiền kiểm tốn kém đối với tất cả sản phẩm.
Với tư duy này, các doanh nghiệp có lịch sử tuân thủ tốt, đã đạt các chứng nhận quốc tế uy tín như HACCP, ISO 22000, FSSC 22000, BRC, IFS cần được công nhận và tạo điều kiện thông qua cơ chế kiểm tra giảm, kiểm tra sau thông quan. Hậu kiểm mạnh mẽ, xử lý nghiêm vi phạm và công khai thông tin là công cụ quản lý hiệu quả hơn so với tiền kiểm hình thức.
Hai là, quản lý theo hệ thống, không chỉ quản lý từng sản phẩm. Cần chuyển từ mô hình quản lý đăng ký, kiểm nghiệm từng sản phẩm sang quản lý toàn diện theo chuỗi giá trị thực phẩm, từ sản xuất đến tiêu dùng.
Điều này đòi hỏi tăng cường áp dụng các tiêu chuẩn quản lý hệ thống quốc tế, công nhận tương đương các chứng nhận quốc tế còn hiệu lực, xây dựng cơ chế truy xuất nguồn gốc thực chất và cơ chế kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp.
Ba là, bảo đảm tính khả thi và nhất quán trong thực thi. Việc phân cấp quản lý cho địa phương cần đi kèm với bảo đảm đầy đủ nguồn nhân lực, chuyên môn, ngân sách và thời gian chuẩn bị, tránh tình trạng mỗi địa phương áp dụng và hiểu khác nhau, gây khó khăn cho doanh nghiệp hoạt động trên nhiều địa bàn.
Bốn là, thúc đẩy chuyển đổi số và liên thông dữ liệu. Cần đẩy mạnh số hóa, xây dựng hệ thống dữ liệu thống nhất giữa các cơ quan quản lý để nâng cao tính minh bạch, giảm thiểu thủ tục chồng chéo, đồng thời nâng cao hiệu quả kiểm tra, giám sát và truy xuất nguồn gốc thực phẩm. Các yêu cầu về kết nối dữ liệu cần được triển khai theo lộ trình phù hợp với năng lực thực tế của doanh nghiệp và hạ tầng công nghệ của cơ quan quản lý nhà nước.
Đặc biệt, theo ông Tuấn, để bảo đảm quá trình xây dựng chính sách minh bạch, cần có sự tham vấn đầy đủ.
“Các quy định có tác động lớn đến hoạt động sản xuất, kinh doanh cần được đánh giá tác động toàn diện, lấy ý kiến rộng rãi từ đối tượng chịu tác động và có thời gian chuyển tiếp hợp lý trước khi có hiệu lực. Kinh nghiệm từ việc triển khai Nghị định 46/2026/NĐ-CP cho thấy, một chính sách dù có mục tiêu đúng đắn, nhưng nếu thiếu tính khả thi và không có lộ trình thực hiện phù hợp, sẽ gây ra những hậu quả ngược chiều với mục tiêu đề ra”, ông Tuấn làm rõ.
Cơ hội để làm khác
Có thể thấy rõ, “việc quản lý chặt chẽ nhưng thông minh, bảo đảm an toàn thực phẩm nhưng vẫn tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp là phương châm cần được thể hiện nhất quán trong các văn bản quy phạm pháp luật” là kiến nghị mà doanh nghiệp đã gửi tới Chính phủ, các bộ, ngành.
Đáng nói là, đang có cơ hội để hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm theo hướng này một cách căn cơ.
Trong các cuộc thảo luận gần đây của các doanh nghiệp, việc Luật An toàn thực phẩm đang trong quá trình sửa đổi, dự kiến trình Quốc hội thông qua vào kỳ họp sắp tới, được nhắc đến như một cơ hội vàng. Với tinh thần chỉ đạo trong Nghị quyết của Đảng, như Nghị quyết 66-NQ/TW, Nghị quyết 68-NQ/TW và thông lệ quốc tế theo hướng áp dụng quản lý rủi ro, hậu kiểm từ sớm, từ xa, số hóa dữ liệu để quản lý thống nhất và nhanh chóng, vấn đề an toàn thực phẩm hiện nay sẽ được giải quyết ở cả mục tiêu quản lý nhà nước và sự thuận lợi trong kinh doanh.
Tuy nhiên, trong thời gian này, nếu áp dụng Nghị định 46/2026/NĐ-CP và Nghị quyết 66.13/2026/NQ-CP vào ngày 16/4 tới, thì thời gian ngắn tới sẽ lại phải thay thế bằng văn bản mới hướng dẫn thi hành Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi), tạo ra bất ổn pháp lý, chi phí tuân thủ lớn và xáo trộn môi trường sản xuất, kinh doanh.
Trong văn bản gửi Thủ tướng Chính phủ và các bộ, ngành, VCCI đã gửi gắm mong muốn của cộng đồng kinh doanh là đề xuất kéo dài thời gian tạm ngưng hiệu lực của Nghị định 46/2026/NĐ-CP và Nghị quyết 66.13/2026/NQ-CP cho đến khi Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) được Quốc hội thông qua và có hiệu lực, đồng thời tiếp tục áp dụng Nghị định số 15/2018/NĐ-CP trong giai đoạn chuyển tiếp.
Cùng với đó, các doanh nghiệp kỳ vọng, Chính phủ chỉ đạo thực hiện đánh giá tác động đầy đủ và toàn diện đối với sản xuất, kinh doanh và chuỗi cung ứng trước khi ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về an toàn thực phẩm.
Cũng vào lúc này, các doanh nghiệp nhắc tới cơ chế tham vấn thường xuyên giữa các hiệp hội ngành hàng và cơ quan chủ trì soạn thảo chính sách trong giai đoạn từ nay đến khi Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) được ban hành và có hiệu lực.
“Cộng đồng kinh doanh, các doanh nghiệp, các hiệp hội sẵn sàng tham gia”, ông Nguyễn Hoài Nam, Tổng thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam cam kết.
Chỉ khi quá trình tham vấn thực chất với cộng đồng doanh nghiệp và các hiệp hội ngành hàng được bảo đảm, quy định thời gian chuyển tiếp tối thiểu phù hợp để doanh nghiệp có thể chuẩn bị và thích ứng trước khi các quy định chính thức có hiệu lực, thì bài toán quản lý nhà nước và sự thuận lợi trong kinh doanh mới có điểm trung hòa.
Báo cáo rõ về căn cứ, cơ sở, nguồn gốc các đề xuất chính sách, nội dung quy định tại Nghị định số 46/2026/NĐ-CP và Nghị quyết 66.13/2026/NQ-CP đang có vướng mắc, bất cập
Đây là một trong những nội dung trong thông báo của Văn phòng Chính phủ về Kết luận của Phó thủ tướng Lê Thành Long tại cuộc họp về triển khai thực hiện Nghị quyết số 09/2026/NQ-CP về tạm ngưng hiệu lực Nghị định số 46/2026/NĐ-CP và Nghị quyết 66.13/2026/NQ-CP về an toàn thực phẩm ngày 5/3/2026.
Theo đó, Phó thủ tướng Lê Thành Long chỉ đạo Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với các bộ: Nông nghiệp và Môi trường, Công thương, Công an, Tư pháp, Tài chính, Khoa học và Công nghệ và các cơ quan liên quan khẩn trương rà soát, xây dựng báo cáo về đánh giá và các giải pháp xử lý các vướng mắc, bất cập của Nghị định 46/2026/NĐ-CP và Nghị quyết 66.13/2026/NQ-CP.
Phó thủ tướng lưu ý, tiếp tục quán triệt quan điểm bảo vệ sức khỏe nhân dân là trên hết, trước hết; có biện pháp quản lý phù hợp để bảo vệ, khuyến khích sản xuất trong nước; đồng thời yêu cầu các bộ đánh giá rõ tác động, tính khả thi của các quy định này, kể cả vướng mắc, khó khăn trong bố trí nguồn lực, tổ chức thực thi đối với cơ quan quản lý, các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm; trên cơ sở đó đề xuất giải pháp xử lý cụ thể, phù hợp.
Trên cơ sở tiến độ và tình hình chuẩn bị hồ sơ Dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi), ý kiến của các bộ, cơ quan liên quan, Bộ Y tế chủ trì đề xuất với Chính phủ về phương án xử lý các vướng mắc, bất cập của Nghị định số 46/2026/NĐ-CP và Nghị quyết 66.13/2026/NQ-CP, trình Thủ tướng Chính phủ.