Sáng 9/8, tiếp chương trình Kỳ họp không thường lệ lần thứ Nhất - Quốc hội khoá XVI, Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật Phòng, chống rửa tiền và Luật Các tổ chức tín dụng (gọi tắt là 1 luật sửa 3 luật về tài chính ngân hàng).
Bổ sung các dấu hiệu giao dịch đáng ngờ liên quan đến tài sản mã hóa theo từng thời kỳ
Tại dự thảo Luật, liên quan đến sửa đổi Luật Phòng, chống rửa tiền, cơ quan soạn thảo - Bộ Tài chính - đã đưa 15 dấu hiệu giao dịch đáng ngờ liên quan đến tài sản mã hóa vào dự thảo Luật (Điều 33a). Đây được coi là bước tiến quan trọng trong việc cụ thể hóa Khuyến nghị 15 của Lực lượng đặc nhiệm tài chính quốc tế (FATF) và tạo cơ sở pháp lý cho việc nhận diện, đánh giá và kiểm soát rủi ro rửa tiền liên quan đến tài sản mã hóa.
Đánh giá cao nội dung này, song đại biểu Trịnh Thị Tú Anh (đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng) cho rằng, cần thiết kế 15 dấu hiệu đáng ngờ theo các nhóm dấu hiệu có cùng tính chất, thay vì liệt kê dàn trải như dự thảo.
"Tôi đề nghị hệ thống lại theo từng nhóm để điều khoản rõ ràng, logic hơn. Nhóm chỉ báo ngoài chuỗi (Off-chain), nhóm chỉ báo trên chuỗi (On-chain), nhóm chỉ báo về VASP và địa chỉ ví...”, đại biểu kiến nghị.
Bên cạnh các dấu hiệu được quy định cụ thể trong Luật, đại biểu Trịnh Thị Tú Anh đề nghị cần có một quy định mở, giao Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định bổ sung các dấu hiệu giao dịch đáng ngờ liên quan đến tài sản mã hóa theo từng thời kỳ.
Bên cạnh đó, bà Tú Anh cho rằng cần bảo đảm năng lực kỹ thuật để phát hiện các dấu hiệu trên chuỗi. Đại biểu nhận thấy, dự thảo đặt ra yêu cầu nhận diện các giao dịch có liên quan đến dịch vụ trộn tiền, cầu nối liên chuỗi và các phương thức che giấu dòng tiền khác. Đây là yêu cầu đúng, nhưng cần nhìn nhận đúng bản chất kỹ thuật của nó.
“Muốn xác định nguồn gốc và đường đi của tài sản, cần sử dụng phân tích dữ liệu trên chuỗi khối (On-chain Analytics) như: phân cụm địa chỉ ví (Address Clustering); phân tích đồ thị giao dịch (Transaction Graph Analysis); xác định chủ thể đứng sau địa chỉ ví (Wallet Attribution); truy vết dòng tài sản qua nhiều blockchain; và phân tích các tương tác với hợp đồng thông minh (Smart Contracts).
Đây không phải là chức năng mặc định của hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking System). Do đó, nếu Luật quy định tổ chức báo cáo phải phát hiện những dấu hiệu mà hạ tầng kỹ thuật của tổ chức không đủ khả năng quan sát, thì sẽ xuất hiện khoảng cách giữa nghĩa vụ pháp lý và năng lực thực thi”, đại biểu phân tích.
| |
Quốc hội thảo luận ở hội trường dự án 1 luật sửa 3 luật về tài chính ngân hàng sáng 9/8 |
Từ đó, đại biểu đoàn Lâm Đồng đề nghị Ngân hàng Nhà nước nghiên cứu xây dựng hoặc tổ chức cung cấp hạ tầng công nghệ giám sát dùng chung theo mô hình SupTech/RegTech, trong đó có các công cụ phân tích On-chain, cơ chế chia sẻ dữ liệu và hệ thống cảnh báo rủi ro cho các tổ chức thuộc diện báo cáo, thay vì yêu cầu từng ngân hàng tự xây dựng một hệ thống phân tích blockchain riêng.
Đồng thời, bà khuyến nghị cần hình thành năng lực phân tích và điều tra tài chính số bởi vì một hệ thống giám sát tốt chưa đủ nếu cơ quan tiếp nhận và xử lý báo cáo giao dịch đáng ngờ không có năng lực phân tích tương ứng.
"Một báo cáo giao dịch đáng ngờ (STR - Suspicious Transaction Report) liên quan đến tài sản mã hóa có cấu trúc rất khác một giao dịch ngân hàng thông thường. Phòng, chống rửa tiền trong lĩnh vực này không thể chỉ dựa trên phương pháp AML truyền thống. Cần bổ sung năng lực phân tích blockchain, điều tra tài chính số và pháp chứng kỹ thuật số (Digital Forensics)”, đại biểu nhấn mạnh và lưu ý nghiên cứu cơ chế thu hút và sử dụng nhân lực chuyên môn cao trong lĩnh vực này.
Cần có cơ chế bảo vệ người báo cáo giao dịch đáng ngờ, bao gồm các ngân hàng
Đồng tình với ý kiến trên, đại biểu Nguyễn Khánh Vũ (đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Trị) cho rằng, dự thảo Luật bổ sung cơ chế nhận diện, báo cáo giao dịch đáng ngờ về tài sản mã hóa là cần thiết vì đây không chỉ là vấn đề kỹ thuật ngân hàng mà là an ninh tài chính quốc gia.
Tuy nhiên, đại biểu Nguyễn Khánh Vũ chỉ ra 2 vướng mắc lớn:
Thứ nhất, về năng lực thực thi. Ông phân tích dự thảo bổ sung 15 dấu hiệu đáng ngờ nhưng để nhận diện được, tổ chức tín dụng cần hạ tầng phân tích chuỗi khối, công cụ truy vết dòng tiền qua nhiều ví, sàn giao dịch, mà phần lớn ngân hàng thương mại chưa có.
"Quy định nghĩa vụ mà không kèm lộ trình hạ tầng thì tổ chức tín dụng khó tuân thủ, cơ quan quản lý cũng khó có căn cứ xử lý vi phạm", ông Vũ nói.
Thứ hai, về động lực thực thi. Theo đại biểu, cùng với yêu cầu báo cáo khi "có cơ sở hợp lý để nghi ngờ", dự thảo đã đề xuất bổ sung quy định bảo vệ người báo cáo, người cung cấp thông tin và người tố giác hành vi rửa tiền, nhưng nội dung công bố hiện chưa nêu rõ có bao gồm miễn trừ trách nhiệm dân sự, hình sự cho tổ chức tín dụng khi báo cáo trung thực.
| |
| Đại biểu Nguyễn Khánh Vũ (đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Trị) đề nghị miễn trừ trách nhiệm cho tổ chức tín dụng khi báo cáo giao dịch đáng ngờ liên quan đến tài sản mã hoá. |
Đại biểu đoàn Quảng Trị cho rằng, nếu chỉ dừng ở bảo vệ cá nhân người báo cáo mà chưa mở rộng đến trách nhiệm của tổ chức, tổ chức tín dụng, báo cáo có thể bị kiện nếu sau đó xác định không có rủi ro, còn không báo cáo có thể bị coi vi phạm.
Hệ quả là tổ chức tín dụng có xu hướng chọn phương án an toàn cho mình, bỏ sót giao dịch đáng ngờ, hoặc từ chối khách hàng hợp pháp như người nhận kiều hối, hộ kinh doanh cá thể.
Từ vướng mắc chỉ ra, đại biểu kiến nghị giao Chính phủ ban hành tiêu chí kỹ thuật hướng dẫn từng dấu hiệu đáng ngờ, quy định ngưỡng giao dịch bắt buộc xác minh danh tính theo thông lệ quốc tế, kèm lộ trình đầu tư hạ tầng và đào tạo cán bộ, có hiệu lực đồng thời với Luật.
Cùng với đó, ông đề nghị quy định rõ trong Luật cơ chế bảo vệ người báo cáo tại Điều 39, bao gồm cả miễn trừ trách nhiệm dân sự, hình sự cho tổ chức tín dụng khi báo cáo trung thực, có căn cứ hợp lý.
Theo đại biểu, quy định này giúp tổ chức tín dụng yên tâm thực hiện đầy đủ nghĩa vụ báo cáo, vừa nâng cao chất lượng phát hiện giao dịch đáng ngờ, vừa tránh gây khó cho khách hàng hợp pháp.