Củng cố niềm tin nhân dân vào sự ổn định kinh tế vĩ mô

0:00 / 0:00
0:00
(ĐTCK) 70 năm hoạt động, ngành ngân hàng đạt được nhiều thành tựu to lớn được Đảng và Nhà nước ghi nhận, trong thời kỳ đổi mới kinh tế, ngành ngân hàng tiếp tục có những đổi mới quan trọng trong điều hành chính sách tiền tệ, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát… Toàn cảnh Ngân hàng Việt Nam 2021 đã có cuộc trao đổi với Phó Thống đốc Thường trực Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam Đào Minh Tú về các nội dung này. 
Phó Thống đốc Thường trực Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Đào Minh Tú. Phó Thống đốc Thường trực Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Đào Minh Tú.

Nhìn lại 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020, một trong những thành công nổi bật của ngành ngân hàng là giải quyết tốt bài toán “bộ ba bất khả thi”. Đâu là bài học mà Ngành rút ra từ kết quả này, thưa ông?

Theo lý thuyết “Bộ ba bất khả thi” chỉ ra một ngân hàng trung ương (NHTW) không thể đạt được đồng thời 03 mục tiêu gồm: tỷ giá cố định, sự độc lập của chính sách tiền tệ (CSTT) và sự tự do lưu chuyển dòng vốn xuyên biên giới tại bất kỳ quốc gia nào.

Theo đó, bất kỳ chính sách, giải pháp nào được ban hành, thực thi bởi NHTW cũng phải chấp nhận sự lựa chọn đánh đổi giữa 3 mục tiêu nêu trên.

Với nước ta, vấn đề “bộ ba bất khả thi” ngày càng trở nên phức tạp, trong bối cảnh nền kinh tế hội nhập ngày càng sâu, rộng vào kinh tế thế giới kể từ khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2007, đồng nghĩa với giá trị giao dịch thương mại quốc tế và lưu chuyển dòng vốn xuyên biên giới ngày càng tăng, phức tạp cả về quy mô và hình thức.

Trong giai đoạn triển khai Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020, nền tảng kinh tế, tài chính thế giới có nhiều biến động bất ổn, tác động đến sự biến động phức tạp của dòng vốn quốc tế.

Với độ mở nền kinh tế Việt Nam ở ngưỡng khá cao, thể hiện qua tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cuối năm 2020 đạt 200% GDP, các biến động này gây áp lực rất lớn đến điều hành CSTT, lãi suất, tỷ giá của NHNN.

Tuy nhiên, kịp thời nhận diện, đánh giá đúng những khó khăn, thách thức nên việc điều hành CSTT, lãi suất, tỷ giá của NHNN giai đoạn 2011 - 2020 đã đạt được nhiều kết quả tích cực, được Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Nhân dân và cộng đồng quốc tế ghi nhận.

Nội hàm của “bộ ba bất khả thi” trong giai đoạn này đã được NHNN điều tiết, xử lý hợp lý và khéo léo trong công tác điều hành CSTT; cụ thể: Thứ nhất, lạm phát trong giai đoạn này được kiểm soát phù hợp với mục tiêu do Quốc hội và Chính phủ đặt ra, tạo nền tảng ổn định kinh tế vĩ mô vững chắc;

Thứ hai, thị trường tiền tệ được điều hành ổn định, thanh khoản đảm bảo thông suốt, tỷ giá biến động linh hoạt phù hợp với cung cầu thị trường và mục tiêu điều hành CSTT trong từng giai đoạn, mặt bằng lãi suất được kiểm soát ổn định và có xu hướng giảm mạnh trong giai đoạn này theo đúng chủ trương, định hướng của Chính phủ (giai đoạn 2016 - 2020 lãi suất cho vay bình quân giảm khoảng 3,6%/năm so với giai đoạn 2011 - 2015);

Thứ ba, dòng vốn nước ngoài tăng nhanh, đặc biệt giai đoạn 2016 - 2020, thặng dư cán cân tài chính của Việt Nam đạt bình quân 14,7 tỷ USD/năm, tăng gần 50% so với giai đoạn đầu mới gia nhập WTO 2007 - 2010, qua đó đóng góp tích cực vào tăng trưởng GDP bền vững ở mức cao tại Việt Nam; Dự trữ ngoại hối nhà nước nhờ đó cũng tăng cao kỷ lục.

Nhìn lại 10 năm qua, có thể rút ra những bài học quý giá trong xử lý “bộ ba bất khả thi” tại Việt Nam, cụ thể như sau:

Một là, sự kiên định của Đảng, Quốc hội, Chính phủ trong kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô đã tạo cơ sở, tiền đề vững chắc để NHNN triển khai đồng bộ các giải pháp thực hiện thành công CSTT, qua đó củng cố niềm tin của người dân vào các mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, giữ vững được giá trị đồng bản tệ.

Hai là, sự phối hợp nhịp nhàng, đồng bộ các công cụ, biện pháp điều hành CSTT là yếu tố then chốt để xử lý các hệ lụy của “bộ ba bất khả thi” trong từng thời kỳ. Đồng thời, CSTT phối hợp chặt chẽ với các chính sách vĩ mô khác trong giai đoạn này cũng góp phần đảm bảo tăng cường được hiệu quả, hiệu lực của công tác kiểm soát lạm phát, điều tiết các phân khúc thị trường (hàng hóa, tiền tệ, tài chính, tài sản).

Ba là, điều chỉnh chính sách chủ động, linh hoạt, kịp thời là yếu tố quyết định để CSTT, tỷ giá, lãi suất của NHNN hấp thụ tốt được các cú sốc bên ngoài đến nền kinh tế, từ đó tạo hiệu ứng tích cực lan tỏa tác động truyền dẫn của các giải pháp thực thi CSTT để triệt tiêu các vấn đề mâu thuẫn có yếu tố đánh đổi phát sinh từ “bộ ba bất khả thi”. Một ví dụ thành công điển hình là việc NHNN đã nhanh chóng, kịp thời điều chỉnh tỷ giá chính thức, mở rộng biên độ tỷ giá vào cuối năm 2015 và chuyển sang áp dụng cơ chế điều hành tỷ giá trung tâm từ đầu năm 2016 khi xuất hiện các áp lực lớn từ thị trường quốc tế.

Bốn là, mức độ biến động của các dòng vốn ngoại có ảnh hưởng khá lớn đến sự ổn định tỷ giá, lãi suất và mục tiêu kiểm soát lạm phát, đồng thời tiềm ẩn rủi ro bất ổn tài chính, vĩ mô. Do đó, quá trình tự do hóa các dòng chu chuyển vốn xuyên biên giới đòi hỏi phải có những bước đi thận trọng, phù hợp với lộ trình và cam kết hội nhập của nền kinh tế, đồng thời cũng phải đảm bảo tương thích với điều kiện thực tiễn và khả năng chống chịu của nền kinh tế.

Năm là, niềm tin của thị trường, tâm lý ổn định của người dân vào khả năng điều hành của NHNN nói riêng và Chính phủ nói chung trong kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và giá trị đồng tiền là yếu tố nền tảng có tính chất quyết định để hỗ trợ NHNN đạt được mục tiêu điều hành CSTT, thực hiện điều chỉnh chính sách mà không gây xáo trộn các phân đoạn thị trường. Điều này chỉ có được khi NHNN và Chính phủ kiên định với mục tiêu kiểm soát lạm phát (như đề cập ở trên), đồng thời tích cực thực hiện truyền thông và minh bạch chính sách để nâng cao hiệu lực, hiệu quả tác động lan truyền của chính sách đối với nền kinh tế.

Cuối cùng, việc liên tục nâng cao năng lực phân tích, dự báo của các cơ quan hoạch định chính sách, trong đó có NHNN giai đoan này đã có vai trò to lớn, có thể chủ động, kịp thời chính xác được tình hình, diễn biến của thị trường, từ đó có cơ sở vững chắc đưa ra các giải pháp ứng phó với các biến động tiêu cực bên trong và bên ngoài trong quá trình xử lý “bộ ba bất khả thi”.

Tóm lại, “bộ ba bất khả thi” luôn là những thách thức, nhưng biết linh hoạt nhạy bén nắm bắt cơ hội và nỗ lực sáng tạo, đổi mới công tác điều hành CSTT, từ đó sẽ giúp NHTW vượt qua thách thức, nắm lấy thời cơ để đạt được những thành tựu trong kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh nền kinh tế ngày càng mở cửa, hội nhập và chịu tác động lớn từ biến động kinh tế - tài chính toàn cầu.

Niềm tin của người dân vào hệ thống ngân hàng được nâng cao rõ rệt.

Niềm tin của người dân vào hệ thống ngân hàng được nâng cao rõ rệt.

Trên thực tế điều hành của ngành ngân hàng, luôn luôn có những vấn đề lớn phát sinh từ thực tiễn nền tài chính thế giới. Trong vài năm trở lại đây, đó là sự phát triển mạnh mẽ về số hóa, của công nghệ tài chính (Fintech), đòi hỏi sự thay đổi từ phía cơ quan quản lý. NHNN đã chuẩn bị gì cho sự chuyển đổi này?

Bối cảnh cách mạng công nghiệp (CMCN) 4.0 và việc ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số trong hoạt động ngân hàng dẫn đến sự ra đời, phát triển của các mô hình kinh doanh mới trên nền tảng ứng dụng công nghệ số, cũng như sự tham gia của các công ty trong cung ứng dịch vụ thanh toán và các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng.

Quá trình này và bối cảnh mới đặt ra những yêu cầu quản lý mới trong việc tạo lập cơ chế chính sách nhằm tạo thuận lợi cho quá trình chuyển đổi số của các tổ chức tín dụng, phát triển dịch vụ ngân hàng số nhưng phải đảm bảo an toàn, ổn định, tạo lập môi trường cạnh tranh công bằng và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Thứ nhất, về chủ trương, định hướng của NHNN đối với phát triển thanh toán số, ngân hàng số trong thời gian qua:

Trước yêu cầu thực tiễn về số hóa dịch vụ và bối cảnh mới của cuộc CMCN 4.0, căn cứ định hướng chỉ đạo của Đảng, Chính phủ, NHNN đã chủ động nghiên cứu và ban hành nhiều quyết sách, quy định kịp thời, phù hợp nhằm tạo điều kiện cho các hoạt động đổi mới, sáng tạo, thúc đẩy chuyển đổi số, phát triển ngân hàng số, thanh toán số.

Cụ thể, từ năm 2017, NHNN đã thành lập Ban chỉ đạo về Fintech để quản lý, thúc đẩy hợp tác ngân hàng - Fintech và những đổi mới trong lĩnh vực tài chính ngân hàng như cho vay ngang hàng (P2P lending), công nghệ chuỗi khối (Blockchain), định danh khách hàng điện tử (eKYC), chia sẻ dữ liệu mở qua API (Open API)…; Bổ sung chức năng, nhiệm vụ và giao đơn vị đầu mối chịu trách nhiệm tham mưu về quản lý hoạt động ngân hàng số.

NHNN cũng ban hành các kế hoạch, chương trình hành động của ngành ngân hàng nhằm triển khai các chủ trương, định hướng của Đảng, Chính phủ về chủ động nắm bắt cơ hội CMCN 4.0, thúc đẩy chuyển đổi số trong ngành ngân hàng; trình Chính phủ ban hành Chiến lược quốc gia về tài chính toàn diện, các Đề án phát triển thanh toán không dùng tiền mặt, trong đó có các nhóm giải pháp mang tính đột phá, định hướng phát triển hoạt động thanh toán, tạo điều kiện chuyển đổi số ngành ngân hàng (bổ sung quy định pháp lý về trung gian thanh toán, tiền điện tử, cho phép đại lý thanh toán, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong thiết kế và phân phối sản phẩm, dịch vụ ngân hàng…).

Đồng thời, xây dựng, ban hành các chính sách, quy định pháp lý nhằm thúc đẩy thanh toán số, tạo điều kiện hỗ trợ hoạt động ngân hàng số như hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt, hoạt động trung gian thanh toán, về mở tài khoản thanh toán bằng phương thức điện tử (eKYC)…; Xây dựng, ban hành các tiêu chuẩn, chuẩn mực thanh toán, đảm bảo kết nối liên thông và an ninh, an toàn, bảo mật trong hoạt động thanh toán như ban hành chuẩn QR Code, tiêu chuẩn thẻ chip nội địa…

NHNN cũng chỉ đạo và ban hành nhiều cơ chế chính sách nhằm tăng cường đầu tư, nâng cấp, phát triển, hoàn thiện cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, hạ tầng thanh toán đảm bảo hoạt động an toàn, bảo mật, thông suốt, có khả năng kết nối liên thông, tích hợp với các ngành, lĩnh vực khác nhằm đáp ứng yêu cầu thanh toán đa dạng của nền kinh tế.

Thứ hai, một số kết quả đạt được. Với định hướng và những hành động cụ thể nói trên, hoạt động thanh toán và chuyển đổi số trong ngành ngân hàng thời gian qua đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận như nâng cấp, hoàn thiện hạ tầng thanh toán, đảm bảo vận hành an toàn, hiệu quả, đáp ứng tốt nhu cầu thanh toán liên ngân hàng với số lượng giao dịch đạt trên 635.000 giao dịch/ngày, giá trị giao dịch bình quân đạt gần 354.000 tỷ đồng/ngày (tương đương 16,5 tỷ USD/ngày);

Hệ thống thanh toán bù trừ tự động các giao dịch bán lẻ (ACH) chính thức vận hành từ tháng 7/2020 với khả năng thanh toán thời gian thực, hoạt động liên tục 24x7, xử lý giao dịch đa kênh, đáp ứng nhu cầu thanh toán bán lẻ của nền kinh tế; Mạng lưới ATM/POS được phủ sóng đến tất cả tỉnh, thành trên cả nước.

Thanh toán số Việt Nam thời gian qua chứng kiến sự ra đời nhiều sản phẩm, dịch vụ mới an toàn, tiện lợi được công chúng đón nhận tích cực và sử dụng rộng rãi như thanh toán, chuyển tiền qua Internet banking, Mobile banking của các ngân hàng, qua Ví điện tử của các tổ chức trung gian thanh toán.

Đến nay đã cấp phép cho 42 tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán; có 75 tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán triển khai dịch vụ thanh toán qua Internet và 45 tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán thực hiện qua điện thoại di động.

Trong đó, đối với dịch vụ ngân hàng trên điện thoại di động (Mobile banking) đã đạt được kết quả ấn tượng với mức tăng trưởng thanh toán di động năm 2020 tăng 123,9% về giá trị và 125,4% về số lượng so với 2019, thanh toán QR code tăng 82,4% về số lượng giao dịch.

Nhiều sản phẩm dịch vụ ngân hàng số khác cũng được các ngân hàng triển khai trên nền tảng ứng dụng công nghệ hiện đại của CMCN 4.0 nhằm gia tăng trải nghiệm cho khách hàng như: cung ứng dịch vụ giải ngân, cho vay trên cơ sở sự hỗ trợ từ ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), tự động hóa quy trình bằng robot (RPA) và dữ liệu lớn (Big data) để thu thập, phân tích dữ liệu và đánh giá, phân loại khách hàng phục vụ cho quyết định giải ngân…

Nhưng công nghệ được dự báo còn phát triển mạnh trong và sau đại dịch Covid-19, kế hoạch của NHNN sẽ là như thế nào trong giai đoạn tới để chủ động thích ứng với yêu cầu đề ra?

Trong thời gian tới, hệ thống công nghệ tài chính sẽ tiếp tục được nâng cấp và hoàn thiện từ khung khổ pháp lý, trong đó đáng chú ý là ban hành Kế hoạch chuyển đổi số ngành ngân hàng; trình Thủ tướng Chính phủ ban hành nghị định thanh toán không dùng tiền mặt; trình Thủ tướng Chính phủ ban hành nghị định về cơ chế quản lý thử nghiệm hoạt động Fintech trong lĩnh vực ngân hàng (Regulatory Sandbox)…

Thanh toán số Việt Nam thời gian qua chứng kiến sự ra đời nhiều sản phẩm, dịch vụ mới.

Thanh toán số Việt Nam thời gian qua chứng kiến sự ra đời nhiều sản phẩm, dịch vụ mới.

NHNN sẽ tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hạ tầng công nghệ phục vụ cho việc cung ứng các sản phẩm số, ứng dụng mạnh mẽ các công nghệ của CMCN 4.0 để cải tiến, thiết kế các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng trên nền tảng số, tăng tính tiện ích, trải nghiệm cho khách hàng; tiến tới chuyển đổi mô hình ngân hàng truyền thống sang ngân hàng số dựa trên công nghệ mới và phân tích dữ liệu.

Đặc biệt, NHNN tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành trong triển khai chuyển đổi số và kiến nghị, đề xuất Chính phủ xây dựng cơ chế chính sách nhằm tạo thuận lợi cho hoạt động chuyển đổi số như hoàn thành việc xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, ban hành Nghị định về định danh và xác thực điện tử, xây dựng hành lang pháp lý về bảo vệ dữ liệu, bảo vệ quyền riêng tư dữ liệu người dùng trên môi trường mạng, đẩy nhanh tiến độ nghiên cứu xây dựng Luật Giao dịch điện tử…

Đồng thời, tiếp tục triển khai các giải pháp hướng tới mục tiêu tài chính toàn diện, tăng cường công tác truyền thông tuyên truyền, giáo dục tài chính, nâng cao nhận thức, hiểu biết người dân về ứng dụng kỹ thuật số trong hoạt động ngân hàng.

Thưa ông, hiện nay NHNN đang thúc đẩy Chiến lược tài chính toàn diện với mục tiêu là nâng cao khả năng tiếp cận tài chính cho người dân, giúp người dân được hưởng dịch vụ tài chính với chất lượng cao. Vậy nhiệm vụ cần phải làm về phía chính sách cũng như các định chế tài chính thời gian tới là gì?

Trong những năm qua, nhiều chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, Chính phủ ban hành đã hướng đến mục tiêu của tài chính toàn diện. NHNN cũng đã trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành nhiều chính sách cụ thể nhằm hỗ trợ thúc đẩy tài chính toàn diện tại Việt Nam như: Chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn; Đề án đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt; Đề án xây dựng và phát triển hệ thống tài chính vi mô… và đã đạt được những kết quả tích cực.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, có thể thấy, việc tiếp cận các dịch vụ ngân hàng, tài chính vẫn còn có những khoảng trống: đến nay vẫn còn hơn 30% người Việt Nam trưởng thành chưa có tài khoản thanh toán tại ngân hàng, nhiều người dân sống ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, người nghèo, người thu nhập thấp và những đối tượng yếu thế khác còn chưa được tiếp cận hoặc tiếp cận chưa đầy đủ những dịch vụ ngân hàng cơ bản.

Ngày 22/01/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 149/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 với 6 nhóm nhiệm vụ và giải pháp trọng yếu. Để triển khai thực hiện tốt và đạt mục tiêu Chiến lược đã đề ra, NHNN đã khẩn trương xây dựng, ban hành Kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược, trong đó nêu rõ các nhiệm vụ cần triển khai đối với từng đơn vị và lộ trình cụ thể.

Theo đó, trong thời gian tới, NHNN sẽ phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng, ban hành, trình cấp có thẩm quyền ban hành các quy định về: đại lý ngân hàng, tiền điện tử và tài khoản tiền điện tử, cơ chế quản lý thử nghiệm có kiểm soát cho các hoạt động công nghệ tài chính trong lĩnh vực ngân hàng; rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các văn bản pháp luật về việc cung ứng các sản phẩm, dịch vụ tài chính; đẩy mạnh các giải pháp thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế.

Nghiên cứu, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển thanh toán không dùng tiền mặt giai đoạn 2021 - 2025.

Tiếp tục hoàn thiện cơ sở hạ tầng tài chính; xây dựng cơ sở dữ liệu về tài chính toàn diện làm cơ sở để theo dõi, giám sát việc thực hiện Chiến lược. Xây dựng các chương trình, kế hoạch tuyên truyền, giáo dục về tài chính toàn diện với những hình thức và nội dung cụ thể, phù hợp với từng đối tượng mục tiêu tài chính toàn diện.

Nghiên cứu và ban hành quy định về bảo vệ người tiêu dùng tài chính, trong đó xác định rõ cơ chế bảo vệ người tiêu dùng tài chính, yêu cầu về công bố thông tin của các tổ chức cung ứng dịch vụ tài chính, cơ chế giải quyết hiệu quả khiếu nại nhằm khuyến khích và gia tăng số lượng người sử dụng sản phẩm, dịch vụ tài chính…

Về phía các tổ chức cung ứng, cần phát huy vai trò là bên cung ứng có trách nhiệm với những sản phẩm, dịch vụ tài chính cho người dân và doanh nghiệp. Theo đó, các tổ chức cung ứng cần tập trung vào việc rà soát, quy hoạch lại mạng lưới chi nhánh, điểm giao dịch, hướng đến người dân ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa.

Phát triển các kênh phân phối hiện đại dựa trên ứng dụng công nghệ số nhằm mở rộng phạm vi cung ứng sản phẩm, dịch vụ tài chính với nhiều tiện ích, phù hợp với nhu cầu, chi phí thấp, đặc biệt là qua điện thoại di động.

Bên cạnh đó, tăng cường truyền thông về sản phẩm, dịch vụ, chú trọng công tác bảo mật và quy trình xử lý khiếu nại, đảm bảo tốt việc bảo vệ khách hàng khi sử dụng các sản phẩm, dịch vụ tài chính. Nghiên cứu, triển khai các chương trình hỗ trợ, các sản phẩm, dịch vụ ưu đãi, hướng tới những đối tượng cụ thể nhằm khuyến khích người tiêu dùng gia tăng sử dụng sản phẩm, dịch vụ tài chính.

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII đã thành công rất tốt đẹp, chỉ ra được các định hướng lớn phát triển đất nước, trong đó có những mục tiêu cụ thể cần đạt được ở các mốc thời gian 2025, 2030 và 2045. Để góp phần hoàn thành các mục tiêu đó, ngành ngân hàng nói chung và NHNN sẽ phải làm gì, thưa ông?

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII đã xác định rất rõ mục tiêu phát triển đất nước, bao gồm cả mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể cho từng mốc giai đoạn. Cụ thể đến năm 2025, là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp. Đến năm 2030 là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao.

Ngành ngân hàng với vai trò là huyết mạch của nền kinh tế đã xác định các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau:

Một là, tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về tiền tệ và hoạt động ngân hàng trên cơ sở tuân thủ đầy đủ các quy luật của kinh tế thị trường, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế, thông lệ quốc tế và đáp ứng yêu cầu hội nhập trong tình hình mới cũng như xu hướng phát triển của cuộc cách mạng CMCN 4.0.

Hai là, tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy hoạt động của NHNN theo hướng tinh gọn, hiệu lực hiệu quả, phù hợp với yêu cầu về cải cách hành chính và phù hợp với thông lệ, chuẩn mực quốc tế.

Ba là, tiếp tục theo dõi, bám sát diễn biến của thị trường trong nước và quốc tế để sử dụng linh hoạt các công cụ nhằm đạt được mục tiêu của CSTT là kiểm soát lạm phát, ổn định giá trị đồng tiền, góp phần giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, tạo điều kiện nâng cao hiệu quả huy động và phân bổ nguồn vốn trong nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững. Điều hành chính sách tín dụng theo hướng tập trung tín dụng vào các lĩnh vực ưu tiên, kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro; lồng ghép các nội dung về phát triển bền vững, biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh trong các chương trình, dự án vay vốn tín dụng.

Tiếp tục thực hiện đồng bộ các biện pháp tiến tới xóa bỏ cơ bản tình trạng đô la hóa trong nền kinh tế; hạn chế từng bước tiến tới chấm dứt cho vay bằng ngoại tệ; triển khai một cách thận trọng, phù hợp lộ trình tự do hóa giao dịch vốn của Việt Nam. Tiếp tục củng cố dự trữ ngoại hối khi có điều kiện thuận lợi và đổi mới công tác quản lý đầu tư dự trữ ngoại hối, duy trì sự ổn định bền vững của thị trường vàng.

Bốn là, tăng cường hiệu lực, hiệu quả hệ thống thanh tra, giám sát ngân hàng, đảm bảo giữ vững an toàn hệ thống các TCTD. Trong đó, công tác thanh tra, giám sát tiếp tục đổi mới theo hướng: chuyển từ phương pháp thanh tra, giám sát tuân thủ sang thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro; tăng cường đầu tư công nghệ hỗ trợ và chú trọng đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho công tác thanh tra, giám sát ngân hàng.

Năm là, tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại hệ thống các TCTD để xử lý dứt điểm những tồn tại, yếu kém của hệ thống mà trọng tâm là xử lý các TCTD yếu kém và nợ xấu; đồng thời, nâng cao hơn nữa năng lực cạnh tranh, tăng sự minh bạch và tuân thủ các chuẩn mực, thông lệ quốc tế trong quản trị và hoạt động.

Sáu là, tập trung xây dựng Đề án phát triển Thanh toán không dùng tiền mặt giai đoạn 2021 - 2025 phù hợp với thông lệ quốc tế và sự phát triển của hoạt động ngân hàng số trong thời kỳ CMCN 4.0…

Bảy là, triển khai có hiệu quả Chiến lược tài chính toàn diện Quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 để cuối năm 2025 đạt được các mục tiêu của Chiến lược này đề ra cho giai đoạn 2020 - 2025.

Tám là, đẩy mạnh ứng dụng các thành tựu của cuộc CMCN 4.0 trên cơ sở đảm bảo an ninh, an toàn, bảo mật trong đổi mới hoạt động quản lý và quản trị của cả NHNN và hệ thống các TCTD; Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học, đặc biệt là các sản phẩm khoa học có khả năng ứng dụng vào thực tiễn hoạt động quản lý của NHNN và hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng; đồng thời, chú trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao để đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành Ngân hàng và hội nhập kinh tế quốc tế.

Chín là, tiếp tục tăng cường hợp tác quốc tế để nâng cao vị thế của ngành ngân hàng Việt Nam trên trường quốc tế. Đổi mới và tăng cường công tác truyền thông theo hướng chủ động, chuyên nghiệp, góp phần minh bạch hóa thông tin, nâng cao nhận thức, hiểu biết của người dân về tài chính, tiền tệ và hoạt động ngân hàng. Đồng thời, triển khai các hoạt động khác của ngành ngân hàng đã được Chiến lược phát triển ngành định hướng, góp phần tạo hiệu ứng tổng thể cho kết quả hoạt động chung của toàn ngành.

Với tinh thần chủ động, tích cực, đồng bộ triển khai các nhiệm vụ, giải pháp nêu trên, tôi tin tưởng ngành ngân hàng sẽ tiếp tục hoàn thành tốt nhiệm vụ, đạt được những mục tiêu, yêu cầu đặt ra, đóng góp trực tiếp cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội.

Về ngắn hạn, trong năm 2021 với những khó khăn, thách thức khi dịch bệnh chưa chấm dứt và Việt Nam vẫn đặt mục tiêu tăng trưởng cao, ngành ngân hàng sẽ thực hiện các chính sách cụ thể về lãi suất, tỷ giá, thanh toán thế nào để đạt được mục tiêu của Quốc hội và Chính phủ đã đề ra?

Trong năm 2021, trước những thời cơ, thách thức đan xen, đặc biệt là diễn biến dịch bệnh Covid-19 vẫn còn phức tạp, chưa có dấu hiệu chấm dứt, để góp phần đạt được các mục tiêu mà Quốc hội và Chính phủ đề ra, đảm bảo sự khởi đầu mới thuận lợi của kế hoạch phát triển kinh tế đầy khát vọng.

Ngay từ đầu năm trên cơ sở Nghị quyết số 124 ngày 11/11/2020 của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2021, Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 01/01/2021 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2021, NHNN đã khẩn trương xây dựng, ban hành Chỉ thị số 01/CT-NHNN ngày 07/01/2021 về tổ chức thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm của ngành Ngân hàng trong năm 2021. Theo đó:

Chính sách tiền tệ sẽ được điều hành chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm kiểm soát lạm phát theo mục tiêu năm 2021 bình quân khoảng 4%, hỗ trợ ổn định kinh tế vĩ mô, góp phần phục hồi tăng trưởng kinh tế, duy trì ổn định thị trường tiền tệ và ngoại hối.

NHNN sẽ tiếp tục theo dõi chặt các diễn biến kinh tế trong và ngoài nước, đặc biệt là động thái điều hành công cụ lãi suất của NHTW các nước lớn, diễn biến của lạm phát, cung - cầu vốn trong nền kinh tế… để đưa ra các quyết sách kịp thời, tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng có thể giảm thêm lãi suất cho vay, đảm bảo duy trì được mặt bằng lãi suất thấp hợp lý, hỗ trợ cho sản xuất kinh doanh của người dân và doanh nghiệp, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Kiểm soát tăng trưởng tín dụng hợp lý gắn với nâng cao chất lượng tín dụng, tập trung vào các lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực ưu tiên. Kiểm soát chặt tín dụng trong lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro. Tiếp tục tháo gỡ khó khăn về tín dụng cho người dân, doanh nghiệp bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh.

Tỷ giá tiếp tục được điều hành linh hoạt, phù hợp với tình hình thị trường trong và ngoài nước, các cân đối vĩ mô, tiền tệ và mục tiêu chính sách tiền tệ; tăng dự trữ ngoại hối Nhà nước khi điều kiện thị trường thuận lợi, kiên định chống đô la hóa trong nền kinh tế.

Tiếp tục thực hiện các giải pháp đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt, chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng, đổi mới, nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin, mở rộng hệ sinh thái số để phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng.

Giám sát các hệ thống thanh toán đảm bảo hoạt động an toàn, hiệu quả; giám sát hoạt động cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán đảm bảo tuân thủ quy định pháp luật; tăng cường an ninh, an toàn trong thanh toán điện tử, thanh toán thẻ.

Tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, cơ chế, chính sách về thanh toán đảm bảo đồng bộ, đáp ứng sự thay đổi nhanh chóng về công nghệ và sự phát triển các mô hình, dịch vụ thanh toán mới.

Quán triệt phương châm hành động của Chính phủ năm 2021 là “Đoàn kết, kỷ cương, đổi mới, sáng tạo, khát vọng phát triển”, ngành ngân hàng sẽ tích cực, chủ động, vượt qua mọi khó khăn để triển khai đồng bộ, có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp điều hành CSTT và hoạt động ngân hàng, góp phần thực hiện thành công mục tiêu tăng trưởng kinh tế mà Quốc hội, Chính phủ đã đề ra.

Hồng Dung
Đặc san Toàn cảnh Ngân hàng Việt Nam 2021

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục