Thị trường chứng khoán Việt Nam bước vào tuần giao dịch đầu tiên của tháng 8 với đà hồi phục tiếp tục mở rộng. Tuy nhiên, sau chuỗi tăng trước đó và khi VN-Index tiến gần vùng MA200 cùng ngưỡng cản tâm lý 1.800 điểm, động lực tăng dần chậm lại và trạng thái rung lắc xuất hiện rõ hơn về cuối tuần. Đây là góc nhìn của ông/ bà về xu hướng giao dịch trong tuần tới?
Ông Nguyễn Văn Trúc, Giám đốc Phân tích, CTCK Quốc Gia (NSI)
Tôi cho rằng cần tách hai lớp: áp lực điều chỉnh ngắn hạn và xu hướng trung hạn - hai lớp này đang không mâu thuẫn với nhau như vẻ ngoài.
Về mặt kỹ thuật, VN-Index đang giằng co ngay tại vùng kháng cự MA200, quanh 1.770-1.775 điểm - đây là ngưỡng đã từng bị đánh mất và giờ đóng vai trò cản. Việc chỉ số test đi test lại vùng này với thanh khoản không đồng đều giữa các phiên là biểu hiện bình thường của quá trình tìm điểm cân bằng sau nhịp hồi gần 9% chỉ trong hơn một tuần trước đó - không phải tín hiệu đảo chiều giảm sâu trở lại.
Điều tôi quan sát kỹ hơn là chất lượng của lực cầu bắt đáy: nó đang xuất hiện có chọn lọc - tập trung ở nhóm ngân hàng quốc doanh, dầu khí, một số cổ phiếu có câu chuyện riêng - chứ chưa lan tỏa đều. Đây là đặc điểm của thị trường đang trong giai đoạn phân hóa, không phải thị trường mất xu hướng.
Cho tuần tới, tôi nghiêng về kịch bản: chỉ số tiếp tục giằng co trong biên hẹp quanh 1.750-1.800 điểm, chưa phá vỡ dứt khoát theo hướng nào. Điều kiện để xác nhận đảo chiều tích cực rõ ràng hơn: thanh khoản phải cải thiện đồng thời với độ rộng thị trường mở ra - tức số mã tăng vượt trội số mã giảm trên diện rộng, không chỉ dựa vào vài mã trụ. Nếu thanh khoản tiếp tục teo tóp dù chỉ số hồi nhẹ, đó là tín hiệu cảnh báo lực cầu chưa thực sự chắc chắn.
Bà Nguyễn Thị Mỹ Liên, Trưởng phòng phân tích, CTCK Phú Hưng (PHS)
Tôi cho rằng tuần tới nhiều khả năng sẽ tiếp tục là giai đoạn rung lắc và phân hóa, thay vì hình thành một nhịp tăng đồng thuận. Sau chuỗi phục hồi nhanh, việc VN-Index tiến vào vùng cản 1.750–1.780 khiến lực cung chi phối hơn, đặc biệt khi thanh khoản ở chiều mua chưa cho thấy sự cải thiện tương xứng. Đáng chú ý, chênh lệch khoảng 20 điểm giữa hợp đồng phái sinh và VN30 cơ sở cũng cho thấy kỳ vọng của dòng tiền đối với khả năng vượt cản ở nhóm vốn hóa lớn đang thận trọng.
Điểm tích cực là mặt bằng cổ phiếu chưa có sự suy yếu đáng kể, khi nhiều mã vẫn giữ được nền giá và bắt đầu nâng dần đáy đi lên. Nếu VN-Index tiếp tục cân bằng tốt, nhịp hồi có thể tích lũy thêm động lượng và hướng tới bứt phá mốc 1.800 điểm. Ngược lại, nếu dòng tiền suy yếu, thanh khoản gia tăng trong các phiên giảm và nhiều cổ phiếu quay lại phá đáy, cần thận trọng với khả năng nhịp hồi đảo chiều. Hỗ trợ gần duy trì cấu trúc vận động hiện quanh vùng 1.730 điểm.
Ông Lê Đức Khánh, Giám đốc phân tích, CTCK VPS
TTCK chững lại đà giảm và xuất hiện những phiên phục hồi đáng chú ý cuối tuần qua. Diễn biến thị trường đang tốt hơn khi nhiều cổ phiếu ngân hàng - cảng biển - tiện ích - dầu khí, đặc biệt là chứng khoán, đã tạo đáy và tăng điểm trở lại. Dòng tiền và niềm tin nhà đầu tư tiếp tục được cải thiện ở tuần giao dịch tới, do đó, VN-Index vẫn được kỳ vọng dao động và phục hồi trở lại mốc 1.780 – 1.800 điểm.
Ông Vũ Duy Khánh, Giám đốc phân tích, CTCK Smart Invest (AAS)
| |
Ông Vũ Duy Khánh |
VN-Index phục hồi tốt và tiến sát ngưỡng kháng cự động MA200. Khối lượng giao dịch ở mức thấp cho thấy việc phục hồi chữ V có vẻ đang thiếu động lực. Có hai kịch bản có thể xảy ra và dù diễn biến như nào cũng là cơ hội tăng gia tăng tỷ trọng khi điểm mua kích hoạt.
Tích cực: Chỉ số đi ngang tạo nền với khối lượng thấp nhằm giảm bớt áp lực cung chốt lời và xuất hiện phiên mua đẩy với khối lượng tăng. Điều này xác nhận xu hướng tăng giá của chỉ số.
Tiêu cực: Chỉ số chạm kháng cự 1.800 điểm và điều chỉnh giảm tạo mô hình hai đáy.
Trong bối cảnh nhu cầu tín dụng tăng cao khiến mặt bằng lãi suất khó giảm sâu trong những tháng cuối năm. Theo ông/bà, điều này sẽ tác động như thế nào đến dòng tiền và nhóm ngành nào sẽ nhạy cảm nhất với biến số lãi suất?
Ông Nguyễn Văn Trúc, Giám đốc Phân tích, CTCK Quốc Gia (NSI)
Đây là bối cảnh tôi đã theo dõi sát trong các báo cáo vĩ mô gần đây - tín dụng đã vượt mốc 20 triệu tỷ đồng, tăng tốc lên 8,3% YTD tính đến tháng 7, trong khi huy động không theo kịp. Cơ chế truyền dẫn sang thị trường chứng khoán đi theo ba kênh.
Thứ nhất - chi phí cơ hội của dòng tiền. Khi lãi suất huy động vẫn neo cao, một phần dòng tiền nhàn rỗi sẽ tiếp tục ở lại kênh tiết kiệm thay vì chảy vào chứng khoán - đây là lực cản với thanh khoản chung của thị trường, không riêng ngành nào.
Thứ hai - nhóm nhạy cảm trực tiếp với biến động lãi suất, tôi xếp theo ba tầng:
Nhạy cảm nhất: Bất động sản - đặc biệt phân khúc dùng đòn bẩy cao, phụ thuộc lãi vay mua nhà. Lãi suất khó giảm sâu đồng nghĩa nhu cầu thực khó bứt phá nhanh.
Nhạy cảm ở chiều ngược - hưởng lợi tương đối: Ngân hàng, dù biên lãi ròng đang chịu sức ép do chi phí vốn tăng, nhưng tăng trưởng tín dụng mạnh vẫn là yếu tố hỗ trợ tổng thu nhập lãi. Đây là nhóm cần theo dõi phân hóa nội bộ - ngân hàng nào kiểm soát tốt chi phí vốn sẽ vượt trội so với nhóm phải chạy đua lãi suất huy động.
Nhạy cảm gián tiếp: Chứng khoán - chi phí vốn cho vay margin tăng, cạnh tranh giữa các công ty chứng khoán khiến biên lợi nhuận mảng này bị nén, dù dư nợ margin toàn ngành vẫn tăng.
Thứ ba - nhóm ít nhạy cảm hơn, đáng chú ý trong bối cảnh này: doanh nghiệp có dòng tiền tự do mạnh, ít phụ thuộc vốn vay - thường thuộc nhóm sản xuất xuất khẩu hoặc tiêu dùng thiết yếu - sẽ có lợi thế tương đối khi mặt bằng lãi suất chưa hạ nhiệt.
Bà Nguyễn Thị Mỹ Liên, Trưởng phòng phân tích, CTCK Phú Hưng (PHS)
Mặt bằng lãi suất khó giảm sâu sẽ khiến dòng tiền trên thị trường thận trọng hơn, khi chi phí vốn cao làm gia tăng áp lực tài chính, cùng dư địa sử dụng đòn bẩy hạn chế. Đồng thời, lãi suất cao cũng ảnh hưởng đến định giá của các tài sản rủi ro, qua đó làm giảm sức hấp dẫn tương đối của cổ phiếu. Trong bối cảnh này, dòng tiền nhiều khả năng sẽ ưu tiên các doanh nghiệp có khả năng tăng trưởng lợi nhuận thực chất và sức khỏe tài chính tốt, thay vì chỉ dựa vào kỳ vọng nới lỏng tiền tệ.
Nhóm ngành nhạy cảm sẽ là Bất động sản, Xây dựng và vật liệu, cùng các doanh nghiệp có đòn bẩy tài chính cao, do chi phí vốn ảnh hưởng trực tiếp đến dòng tiền và lợi nhuận. Bên cạnh đó, nhóm Ngân hàng cũng cần theo dõi diễn biến NIM và chi phí huy động, bởi tăng trưởng tín dụng mạnh không đồng nghĩa lợi nhuận sẽ cải thiện tương ứng nếu chi phí vốn tăng. Ngược lại, những doanh nghiệp có bảng cân đối lành mạnh, lượng tiền mặt lớn và ít phụ thuộc vào vốn vay sẽ ít chịu tác động hơn.
Ông Lê Đức Khánh, Giám đốc phân tích, CTCK VPS
Với diễn biến thị trường không giảm sâu hoặc đi ngang ở mức hiện tại, nhóm ngành nhạy với lãi suất luôn là nhóm bất động sản khi áp lực chi phí lãi vay cao để phát triển dự án, chi phí tài chính tăng cũng ảnh hưởng đến biên lợi nhuận. Nhóm ngân hàng hay chứng khoán cũng sẽ có tác động cho dù mức độ ảnh hưởng khác nhau.
Trong khi đó, nhóm cổ phiếu tiện ích hay bảo hiểm là những nhóm ngành mang tính phòng thủ và có những lợi thế trong môi trường biến động lãi suất; doanh nghiệp có lượng tiền và tương tiền cao như GAS, VNM, REE, NT2... cũng có những ổn định - doanh thu tài chính mạnh mẽ.
| |
Ông Lê Đức Khánh |
Ông Vũ Duy Khánh, Giám đốc phân tích, CTCK Smart Invest (AAS)
Mặc dù chịu nhiều sức ép nhưng tôi cho rằng mặt bằng lãi suất có thể giảm dần về cuối năm. Có mấy lý do sau:
Thứ nhất là Kho bạc Nhà nước hiện là tay chơi lớn nhất có khả năng bẻ cong đường cong lãi suất trên thị trường liên ngân hàng. Việc KBNN để lại một lượng tiền gửi khổng lồ (lên tới hàng trăm nghìn tỷ đồng) tại các NHTM quốc doanh (Big 4) thay vì hút toàn bộ về NHNN là một nguồn cung thanh khoản giá rẻ và ổn định. Trong giai đoạn vừa qua, NHNN đã gửi 740 nghìn tỷ ở NHTM và mua lại 40 nghìn tỷ trái phiếu. Nhờ hoạt động này, từ mức 450 nghìn tỷ, giờ chỉ còn 190 nghìn tỷ đồng lưu hành trên kênh cầm cố và lãi suất liên ngân hàng đã bớt căng thẳng.
Trong nửa cuối năm, khi KBNN ép tiến độ giải ngân đầu tư công, tiền sẽ chạy từ tài khoản của KBNN (nằm tại Big 4 hoặc NHNN) ra tài khoản thanh toán của các nhà thầu (phân bổ rộng khắp hệ thống NHTM). Dòng tiền này chuyển từ trạng thái "đóng băng" sang trạng thái M2 (cung tiền), trực tiếp làm tăng thanh khoản hệ thống và ép lãi suất liên ngân hàng đi xuống.
Thứ hai, việc các ngân hàng tăng vay USD trên thị trường liên ngân hàng quốc tế phần lớn chảy vào Tài khoản Nostro để phục vụ thanh toán quốc tế (L/C, T/T) cho tệp khách hàng xuất nhập khẩu. Ngoài ra, một lượng lớn USD được sử dụng cho các giao dịch FX Swap (Bán USD/Mua VND giao ngay, Mua USD/Bán VND kỳ hạn). Động thái Swap này thực chất là cách để các ngân hàng lấy USD làm tài sản thế chấp, hút VND giá rẻ về hệ thống để duy trì thanh khoản, từ đó làm giảm áp lực huy động VND từ thị trường 1 (dân cư).
Về mặt lý thuyết, chúng ta có thể chia ranh giới độ nhạy cảm thành hai thái cực:
Thái cực 1: Nhóm chịu áp lực mạnh (Đòn bẩy cao – Thâm dụng vốn)
Bất động sản – Nhạy cảm rất cao: Đây là nhóm chịu tác động trực diện nhất từ mặt bằng lãi suất cao. Trong bối cảnh pháp lý dự án còn nhiều vướng mắc và dòng tiền bán hàng phục hồi chậm, các doanh nghiệp bất động sản vẫn phụ thuộc lớn vào nợ vay và trái phiếu. Lãi suất duy trì ở mức cao làm chi phí đảo nợ gia tăng đáng kể, trong khi lãi vay mua nhà cao tiếp tục kìm hãm nhu cầu thực, kéo dài chu kỳ suy yếu của thị trường.
Xây dựng & Vật liệu – Nhạy cảm cao: Các doanh nghiệp xây lắp thường phải ứng vốn thi công, chịu áp lực chiếm dụng vốn lớn từ chủ đầu tư. Khi chi phí vốn tăng nhưng biên lợi nhuận ngành vốn đã thấp (3–5%), lợi nhuận cốt lõi bị bào mòn rõ rệt. Rủi ro thanh khoản và dòng tiền trở thành yếu tố then chốt quyết định sức khỏe doanh nghiệp.
Chứng khoán – Nhạy cảm trung bình: Thanh khoản thị trường suy giảm khiến nguồn thu từ môi giới co lại. Đồng thời, danh mục tự doanh – đặc biệt là tài sản mang tính chu kỳ như cổ phiếu và trái phiếu – chịu áp lực định giá lại khi lãi suất tăng, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận.
Thái cực 2: Nhóm phòng thủ & hưởng lợi (Tiền mặt dồi dào – Beta thấp)
Công nghệ: Đặc thù ít sử dụng đòn bẩy tài chính, trong khi tích lũy lượng tiền mặt lớn, giúp nhóm này hưởng lợi từ lãi suất cao thông qua gia tăng thu nhập tài chính. Nền tảng tăng trưởng dài hạn từ chuyển đổi số vẫn được duy trì, ít chịu ảnh hưởng bởi chu kỳ kinh tế ngắn hạn.
Tiện ích (Điện, Nước, Cảng biển) – Tác động tích cực: Dòng tiền kinh doanh ổn định, nhu cầu tiêu thụ thiết yếu và ít co giãn theo lãi suất giúp nhóm này duy trì hiệu quả hoạt động. Lượng tiền mặt lớn và chính sách cổ tức đều đặn khiến đây trở thành nhóm “trú ẩn” điển hình trong môi trường biến động.
Ngân hàng – Phân hóa mạnh: Tác động không đồng nhất giữa các ngân hàng. Những ngân hàng có CASA cao và chi phí vốn thấp vẫn duy trì được NIM ổn định. Ngược lại, các ngân hàng có tỷ trọng cho vay tiêu dùng hoặc bất động sản lớn đối mặt với rủi ro nợ xấu gia tăng khi áp lực lãi vay bào mòn khả năng trả nợ của khách hàng.
Khi mùa công bố kết quả kinh doanh quý II dần đi qua, dòng tiền có xu hướng chuyển từ “đánh theo kỳ vọng” sang chọn lọc doanh nghiệp dựa trên chất lượng lợi nhuận và triển vọng nửa cuối năm. Theo ông/bà, nhóm ngành nào có khả năng trở thành tâm điểm dòng tiền trong tuần tới?
Ông Nguyễn Văn Trúc, Giám đốc Phân tích, CTCK Quốc Gia (NSI)
Đúng là mùa KQKD quý 2 gần khép lại, và điều tôi nhận thấy là bức tranh lợi nhuận đang phân hóa mạnh hơn là năm ngoái - nghĩa là dòng tiền buộc phải chọn lọc, không thể "mua theo chỉ số" như giai đoạn thị trường đồng thuận.
Ba tiêu chí tôi dùng để xác định nhóm đáng chú ý trong bối cảnh chọn lọc này:
Có bằng chứng dòng vốn thực sự chảy vào - không chỉ dựa trên kỳ vọng chính sách. Nhóm đầu tư công và vật liệu xây dựng đáp ứng tiêu chí này rõ nhất: giải ngân đầu tư công 7 tháng đã tăng 18,4%, tốc độ giải ngân tháng 7 cao nhất trong 7 tháng - đây là dòng tiền có bằng chứng định lượng, không phải câu chuyện kỳ vọng.
Chất lượng lợi nhuận bền vững, không phải lợi nhuận đột biến một lần. Nhóm ngân hàng quốc doanh đang cho thấy khả năng kiểm soát chi phí vốn tốt hơn nhóm NHTMCP quy mô nhỏ trong bối cảnh NIM toàn ngành co hẹp - đây là sự phân hóa đáng chú ý trong chính nội bộ ngành ngân hàng.
Ít rủi ro đảo chiều chính sách trong ngắn hạn. Nhóm dầu khí thượng nguồn đang được hỗ trợ bởi chu kỳ đầu tư dự án nội địa quay trở lại - đây là câu chuyện tiến độ dự án cụ thể, ít phụ thuộc biến động giá dầu ngắn hạn hơn giai đoạn trước.
Tôi muốn nhấn mạnh: đây là những nhóm ngành có luận điểm hỗ trợ, không phải khuyến nghị mã cụ thể - với thị trường đang phân hóa như hiện nay, việc chọn đúng doanh nghiệp trong từng nhóm quan trọng hơn việc chọn đúng ngành.
Bà Nguyễn Thị Mỹ Liên, Trưởng phòng phân tích, CTCK Phú Hưng (PHS)
Tôi cho rằng sau mùa KQKD quý II, dòng tiền sẽ không còn chạy theo câu chuyện tăng trưởng ngắn hạn mà bắt đầu tìm kiếm những nhóm có câu chuyện cho nửa cuối năm, khả năng thích nghi với tình hình vĩ mô nhiều biến động và được hỗ trợ bởi các yếu tố chính sách. Trong đó, đáng chú ý là nhóm doanh nghiệp Nhà nước khi các chỉ đạo, công điện mới có thể tạo thêm động lực cho nhóm này, dù câu chuyện không hoàn toàn mới.
Bên cạnh đó, thời điểm Việt Nam chính thức được nâng hạng lên thị trường mới nổi thứ cấp đang đến gần cũng có thể tạo kỳ vọng cho nhóm cổ phiếu vốn hóa lớn và các doanh nghiệp có khả năng hưởng lợi từ dòng vốn mới.
| |
Bà Nguyễn Thị Mỹ Liên |
Ông Lê Đức Khánh, Giám đốc phân tích, CTCK VPS
Nhóm cổ phiếu BIG 4 gồm VCB, CTG, BID; hay nhóm cổ phiếu chứng khoán hàng đầu sẽ là động lực cho TTCK tuần tới. Ngoài ra, câu chuyện của các DNNN - thoái vốn như GVR, GAS, PLX, BVH... cũng sẽ giúp việc định hướng dòng vốn.
Diễn biến giao dịch trên TTCK sôi động hơn và tất nhiên, những nhóm cổ phiếu có dự phóng kết quả kinh doanh khả quan trong năm 2026 hay bị tác động từ câu chuyện địa chính trị - giá dầu như nhóm dầu khí/logistics cảng biển hay hóa chất cũng sẽ được các nhà đầu tư quan tâm hơn...
Ông Vũ Duy Khánh, Giám đốc phân tích, CTCK Smart Invest (AAS)
Trong môi trường "tiền không còn quá rẻ", dòng tiền trên thị trường tài chính và nền kinh tế sẽ có sự chuyển pha rõ rệt:
Sự chọn lọc khắt khe (Phân hóa): Dòng tiền đầu cơ mang tính "fomo" sẽ rút lui. Dòng vốn nhàn rỗi sẽ đo lường rất kỹ giữa Lợi suất thu nhập (Earning Yield) trên thị trường chứng khoán so với Lãi suất phi rủi ro (Tiền gửi tiết kiệm). Dòng tiền sẽ chỉ tập trung vào những doanh nghiệp có dòng tiền kinh doanh dương, tỷ lệ trả cổ tức bằng tiền mặt đều đặn và EPS tăng trưởng thực chất.
Chi phí vốn (Cost of Funds) đè nặng: Đối với khu vực doanh nghiệp thực, lãi suất cho vay khó giảm sâu đồng nghĩa với việc biên lợi nhuận ròng (Net Profit Margin) khó có sự bứt phá, trừ khi doanh nghiệp có khả năng chuyển phần chi phí này vào giá bán sản phẩm (Pricing power).
Thanh khoản thị trường thu hẹp: Chi phí vay margin (đòn bẩy) tại các công ty chứng khoán sẽ neo cao theo lãi suất huy động, khiến sức mua tổng thể của thị trường bị kìm hãm. Trạng thái giao dịch thường giằng co với thanh khoản ở mức trung bình thấp.
Một lưu ý tôi muốn chia sẻ là giai đoạn vừa qua thị trường đánh cổ phiếu theo kiểu phản ứng sự kiện hơn là theo những yếu tố cơ bản. Phần lớn các cổ phiếu tăng giá đi theo tin tức nhiều hơn như sóng thoái vốn DNNN, sóng nhóm VINCOM và sự phản ứng về kết quả kinh doanh là rất ít. Nhìn biểu đồ tháp chuông hiện nay chúng ta thấy rõ. Kết quả kinh doanh quý II/2026 rất tốt đẩy EPS 12 tháng tăng 19,8% nhưng P/E thị trường trong 13 tuần giảm 15,2% và TTCK lại đi xuống.
| |
Trong bối cảnh định giá thị trường đã trở nên hấp dẫn nhưng xu hướng tăng dài hạn chưa được xác nhận. Nhìn xa hơn phạm vi tuần, ông/bà nhìn nhận, đâu là những nhóm cổ phiếu có tỷ lệ cơ hội/rủi ro tốt nhất trong quý 3/2026?
Ông Nguyễn Văn Trúc, Giám đốc Phân tích, CTCK Quốc Gia (NSI)
Trước khi trả lời trực tiếp, tôi muốn nêu rõ tiền đề: định giá hấp dẫn chỉ là điều kiện cần, không phải điều kiện đủ để xác nhận xu hướng tăng - đây chính xác là điều đang xảy ra. P/E thị trường sau nhịp điều chỉnh đã lùi về vùng thấp trong lịch sử, nhưng mức độ phân hóa giữa VN-Index và phần còn lại của thị trường vẫn đang ở vùng cao nhất nhiều năm — tức định giá rẻ không tự động đồng nghĩa dòng tiền sẽ lan tỏa ngay.
| |
Ông Nguyễn Văn Trúc |
Với khung nhìn xa hơn phạm vi tuần - tức nhìn theo tỷ lệ cơ hội/rủi ro cho cả quý 3 - tôi cho rằng có hai nhóm đáng chú ý, khác nhau về bản chất xúc tác.
Nhóm thứ nhất là nhóm có xúc tác định lượng với thời gian rõ ràng, nên rủi ro thấp hơn vì có mốc kiểm chứng cụ thể. Chứng khoán là ví dụ rõ nhất - nhóm này hưởng lợi trực tiếp và có thể đo lường được từ tiến trình nâng hạng FTSE, với mốc công bố danh mục chính thức dự kiến tháng 9. Đây là nhóm có cơ chế hưởng lợi rõ ràng: thanh khoản, dư nợ margin, doanh thu môi giới và ngân hàng đầu tư đều có logic tăng trưởng cụ thể đi kèm mốc thời gian xác định. Đầu tư công, vật liệu xây dựng và hạ tầng cũng thuộc nhóm này, nhưng xúc tác của họ đến từ tiến độ giải ngân đã có bằng chứng định lượng liên tục qua từng tháng, chứ không phụ thuộc một sự kiện đơn lẻ như FTSE.
Nhóm thứ hai là nhóm có định giá hấp dẫn nhưng cần thêm yếu tố hỗ trợ để kích hoạt, nên rủi ro cao hơn vì phụ thuộc câu chuyện doanh nghiệp cụ thể. Midcap nói chung rơi vào nhóm này - do mức điều chỉnh trước đó sâu hơn nhóm vốn hóa lớn, định giá đã chiết khấu nhiều, nhưng đòi hỏi chọn lọc kỹ theo từng doanh nghiệp có câu chuyện tăng trưởng riêng, tránh mua theo cả nhóm.
Về khung rủi ro cần theo dõi song song, tôi xin nêu ba điều kiện có thể khiến quan điểm này đảo ngược. Nếu FTSE có bất kỳ động thái trì hoãn hoặc thay đổi điều kiện nâng hạng, cần đối chiếu tin tức sát mốc tháng 9. Nếu lãi suất liên ngân hàng tiếp tục neo cao bất thường vượt ngưỡng đã quan sát, áp lực lên định giá chung sẽ lớn hơn dự kiến. Và nếu độ rộng thị trường không cải thiện - tức dòng tiền vẫn chỉ tập trung ở một nhóm hẹp cổ phiếu trụ - thì ngay cả khi các nhóm trên tăng giá, đó vẫn là thị trường phân hóa chứ chưa phải xu hướng tăng được xác nhận trên diện rộng.
Bà Nguyễn Thị Mỹ Liên, Trưởng phòng phân tích, CTCK Phú Hưng (PHS)
Tôi đánh giá Ngân hàng, Chứng khoán, Doanh nghiệp Nhà nước, Cảng biển và Đầu tư công là những nhóm có tỷ lệ cơ hội/rủi ro đáng chú ý trong quý III. Ngân hàng có nền tảng từ tăng trưởng tín dụng và triển vọng kinh tế; chứng khoán hưởng lợi khi thanh khoản thị trường cải thiện và câu chuyện nâng hạng tiến gần; doanh nghiệp Nhà nước có thêm động lực từ các chính sách và định hướng mới. Trong khi đó, cảng biển và đầu tư công có câu chuyện tăng trưởng gắn với hoạt động thương mại, giải ngân đầu tư và nhu cầu hạ tầng.
Điểm đáng chú ý là nhiều cổ phiếu trong các nhóm này đã được chiết khấu khá mạnh, đưa P/E về vùng thấp, thậm chí dưới mức lịch sử. Nếu lợi nhuận tiếp tục được củng cố và các rủi ro bên ngoài hạ nhiệt, đây sẽ là cơ sở để thị trường định giá lại, tạo dư địa cho nhịp phục hồi.
Ông Lê Đức Khánh, Giám đốc phân tích, CTCK VPS
Nhà đầu tư nên ưu tiên những cổ phiếu riêng lẻ hơn là tập trung vào thị trường chung. Những cổ phiếu có kết quả kinh doanh khả quan, định giá hấp dẫn hay hưởng lợi từ chính sách sẽ được ưu tiên hơn. Trong đó, nhóm tiện ích - tài chính chứng khoán - bán lẻ - cảng biển... sẽ có những cổ phiếu nổi trội và thu hút sự quan tâm từ phía các nhà đầu tư... trong quý III/2026.
Ông Vũ Duy Khánh, Giám đốc phân tích, CTCK Smart Invest (AAS)
| |
Với đặc thù của TTCK Việt Nam, về cơ bản nhóm cổ phiếu chứng khoán, ngân hàng, bán lẻ có thể là nhóm sẽ hưởng lợi lớn nếu TTCK phục hồi.