Ông có thể chia sẻ góc nhìn về mặt bằng định giá cổ phiếu ngân hàng hiện nay?
Theo đánh giá của chúng tôi, diễn biến của chỉ số giá ngành ngân hàng từ đầu năm tới nay nói chung khá sát với diễn biến của chỉ số chung. Tính đến ngày 9/9/2026, chỉ số giá ngành ngân hàng tăng trưởng 3,17%, cao hơn chút ít so với mức tăng 2,39% của VN-Index.
Trong khi đó, theo báo cáo tài chính 6 tháng đầu năm 2026 đã công bố, tổng lợi nhuận sau thuế của 27 ngân hàng niêm yết và đăng ký giao dịch trên thị trường chứng khoán tăng trưởng 19,6% so với cùng kỳ và theo dự báo của chúng tôi, lợi nhuận toàn nhóm có thể đạt mức tăng trưởng từ 16 - 18% trong cả năm nay, thấp hơn mức tăng 19,5% của năm 2025.
Nhìn vào những số liệu này, có thể thấy thị trường đang khá thận trọng đối với nhóm ngân hàng. Hệ số P/B của ngành hiện tại đang ở mức 1,42x, thấp hơn so với mức trung bình 10 năm gần đây là 1,7x (năm 2025, chỉ số giá toàn ngành tăng 29,8%). Nguyên nhân, theo tôi, một phần là do dòng tiền trên thị trường không còn dồi dào như năm trước. Ngoài ra, nhà đầu tư cũng e ngại môi trường kinh doanh của ngành ngân hàng đang có những yếu tố kém thuận lợi hơn.
Xét theo các cổ phiếu trong ngành, sự phân hóa giá diễn ra khá mạnh khi chỉ có 9/27 mã có mức tăng giá cao hơn so với VN-Index. Giá cổ phiếu trên thị trường, không riêng gì ngành ngân hàng đều có thể tăng trong một giai đoạn vì nhiều nguyên nhân khác nhau, ngoài kỳ vọng chung của ngành có thể đến từ câu chuyện riêng của một doanh nghiệp như tăng vốn, kỳ vọng M&A, kết quả kinh doanh đột biến… Tuy nhiên xét về mặt dài hạn, triển vọng tăng trưởng kinh doanh của một doanh nghiệp vẫn sẽ là yếu tố chủ yếu hỗ trợ cho giá của các cổ phiếu.
| |
Từ nay đến cuối năm, đâu sẽ là động lực chính cho tăng trưởng lợi nhuận ngân hàng? Theo ông, dư địa tạo bất ngờ tích cực còn nằm ở đâu?
Năm 2026, Ngân hàng Nhà nước định hướng điều hành tín dụng thận trọng với mục tiêu tăng trưởng tín dụng 15%, thấp hơn mức 19% của năm 2025. Tính đến 31/7/2026, dư nợ tín dụng toàn ngành đạt khoảng 20,3 triệu tỷ đồng, tăng 8,98% so với cuối năm 2025, như vậy vẫn còn dư địa cho giai đoạn còn lại của năm.
Từ cuối quý II tới nay, chính sách điều hành đã dần chuyển sang hỗ trợ có chọn lọc khi áp lực tỷ giá và giá năng lượng hạ nhiệt.
Các chính sách như cơ chế đặc biệt loại dư nợ cho vay đối với 18 dự án trọng điểm ra khỏi room tín dụng; Thông tư 25/2026 sửa đổi Thông tư 22/2019 nâng tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn từ 30% lên 40%; Quyết định 1743/QĐ-NHNN cho phép ngân hàng tính 50% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào tổng huy động khi tính toán tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR), cùng với một loạt các biện pháp kỹ thuật khác đã giúp cải thiện thanh khoản hệ thống.
Cùng với đó, việc đẩy mạnh chính sách tài khóa trong các tháng cuối năm 2026 (vốn đầu tư công còn hơn 545.000 tỷ đồng cần giải ngân) sẽ là những yếu tố hỗ trợ cho tăng trưởng tín dụng ngành ngân hàng trong giai đoạn tới.
| |
Tín dụng tăng nhanh đang đặt ra những rủi ro gì cho lợi nhuận của ngành ngân hàng? Nhà đầu tư nên theo dõi chỉ báo nào để nhận diện sớm áp lực chất lượng tài sản?
Bên cạnh việc mở rộng quy mô, chất lượng tín dụng cũng là điểm mà nhà đầu tư cần quan tâm đối với ngành ngân hàng. So với cuối năm 2025, tổng dư nợ nhóm 3-5 của 28 ngân hàng trên sàn tại thời điểm cuối quý II/2026 đã tăng 17,5%, nợ nhóm 2 cũng tăng 28,97%.
Nợ xấu tăng lên đã khiến cho các ngân hàng phải tăng trích lập dự phòng, tổng chi phí dự phòng trong 6 tháng đầu năm tăng 20% so với cùng kỳ năm 2025. Mặc dù tỷ lệ nợ xấu so với dư nợ tín dụng chỉ tăng nhẹ từ 1,87% vào cuối năm 2025 lên 2,02% tại cuối quý II, nhưng đây là chỉ số cần tiếp tục theo dõi trong trong thời gian tới.
Bên cạnh đó, để duy trì hiệu quả hoạt động trong bối cảnh lãi suất huy động tăng và yêu cầu mạnh mẽ từ phía Ngân hàng Nhà nước về việc tuân thủ giảm mặt bằng lãi suất, các ngân hàng sẽ cần phải cơ cấu lại kỳ hạn các khoản vay, đa dạng hóa nguồn thu, tăng cường ứng dụng chuyển đổi số, AI để tối ưu chi phí, tăng cường năng lực về vốn thông qua huy động từ thị trường chứng khoán, vay nước ngoài…
Dòng vốn từ FTSE sẽ tạo tác động ra sao đến cổ phiếu ngân hàng? Điều gì quyết định khả năng dòng vốn ngoại chủ động tiếp tục ở lại?
Theo công bố của FTSE Russell, có 27 mã cổ phiếu, trong đó có 8 cổ phiếu ngân hàng dự kiến sẽ lọt vào FTSE Global Equity Index Series (GEIS), có hiệu lực từ ngày 21/9/2026. Với việc tỷ trọng của Việt Nam được nâng lên trong khoảng 0,49 - 0,50% so với 0,34 - 0,35% tại kỳ rà soát tháng 3/2026, dự báo dòng vốn thụ động từ các quỹ chỉ số có thể phân bổ vào Việt Nam từ 2 - 2,5 tỷ USD sau khi hoàn thành toàn bộ 4 đợt vào tháng 9/2027. Trong đó, 8 cổ phiếu ngân hàng chiếm khoảng 58% và tỷ trọng sẽ khác nhau với từng cổ phiếu. Tuy vậy, đợt phân bổ lần 1 tỷ trọng chỉ là 10% nên tác động tới giá cổ phiếu sẽ chưa nhiều.
Nhìn về dài hạn, việc nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam là bước khởi đầu để thị trường chung và các doanh nghiệp hướng tới các chuẩn mực cao hơn. Ngoài các quỹ thụ động, yếu tố giữ chân dòng tiền chủ động của nhà đầu tư ngoại vẫn sẽ phụ thuộc vào môi trường đầu tư, triển vọng vĩ mô và doanh nghiệp cũng như tiến trình thực thi các giải pháp để cải cách, nâng cấp thị trường vốn theo như chiến lược phát triển chung đã đề ra.
Tôi tin rằng, khi xây dựng được thị trường vốn đa dạng về sản phẩm, có chiều sâu, hạ tầng đồng bộ và thông suốt, minh bạch, có cơ chế bảo vệ nhà đầu tư và các sai phạm được phát hiện và xử lý kịp thời, chúng ta sẽ không chỉ giữ chân mà còn thu hút được thêm nhiều nguồn vốn từ bên ngoài.
Trong trung hạn, theo ông, yếu tố tạo khác biệt giữa các ngân hàng là gì? Tốc độ tăng trưởng hay chất lượng tăng trưởng và năng lực quản trị?
Bức tranh 6 - 12 tháng tới có thể được mô tả bằng ba từ khóa: tăng trưởng - phân hóa - thận trọng.
Tăng trưởng vẫn là xu hướng chủ đạo nhờ nhu cầu tín dụng lớn, đặc biệt ở các dự án xây dựng hạ tầng. Phân hóa sẽ rõ hơn giữa các ngân hàng dựa trên năng lực quản trị, chất lượng tài sản và chi phí vốn. Còn sự thận trọng sẽ đến từ yêu cầu cân bằng giữa mục tiêu hỗ trợ tăng trưởng kinh tế với việc bảo đảm thanh khoản, kiểm soát rủi ro và duy trì ổn định tài chính. Đây sẽ là giai đoạn mà hiệu quả quản trị, chứ không chỉ tốc độ tăng trưởng, quyết định vị thế của mỗi ngân hàng trong chu kỳ mới.
Bối cảnh này đem đến cơ hội cho các ngân hàng có bộ đệm vốn cao, nền tảng huy động vững, năng lực quản trị tín dụng, quản trị chi phí và có lợi thế cấu trúc về thu nhập phí sẽ có cơ hội phát triển nhanh hơn so với ngành.