Tăng mạnh nửa đầu năm
Chất lượng tài sản của ngành ngân hàng trong 6 tháng đầu năm 2026 tiếp tục cho thấy những tín hiệu đáng chú ý khi nợ xấu tăng nhanh. Theo thống kê từ báo cáo tài chính của 27 ngân hàng niêm yết và đăng ký giao dịch trên UPCoM, tổng số dư nợ xấu (nợ nhóm 3-5) tính đến ngày 30/6/2026 đạt hơn 310.000 tỷ đồng, tăng gần 48.000 tỷ đồng, tương đương khoảng 18% so với cuối năm 2025. Tỷ lệ nợ xấu bình quân của nhóm ngân hàng khảo sát cũng tăng từ 1,85% cuối năm 2025 lên 2,01% vào cuối tháng 6/2026, đánh dấu mức cao nhất trong nhiều năm trở lại đây.
Nợ xấu đi lên trong bối cảnh tín dụng tiếp tục tăng trưởng nhằm đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế, trong khi nhiều doanh nghiệp vẫn chịu sức ép từ chi phí tài chính cao, thị trường bất động sản phục hồi chậm và dòng tiền chưa thực sự cải thiện. Cập nhật thông tin tại buổi làm việc với Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng về vấn đề tiếp cận vốn tín dụng mới đây, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Ngọc Cảnh cho biết, tính đến ngày 31/7/2026, dư nợ toàn nền kinh tế đạt gần 20,3 triệu tỷ đồng, tăng 8,98% so cuối năm 2025. Trong đó, dư nợ tín dụng đối với doanh nghiệp đạt trên 10,7 triệu tỷ đồng, chiếm 53,4% tổng dư nợ và tăng nhẹ so với mức tăng trưởng 8,37% tính đến cuối tháng 6/2026 và thấp hơn so với mức tăng trưởng cùng kỳ năm trước (9,64%).
Mặc dù vậy, đây vẫn là mức tăng trưởng khả quan trong nhiều năm trở lại đây. Đáng chú ý, khi các khoản vay bước vào giai đoạn bộc lộ chất lượng, áp lực phân loại nợ và trích lập dự phòng cũng gia tăng.
Xét về giá trị tuyệt đối, Sacombank tiếp tục là ngân hàng có lượng nợ xấu lớn nhất hệ thống với gần 48.000 tỷ đồng, tăng 19% so với cuối năm 2025. Theo sau là BIDV với hơn 45.700 tỷ đồng, tăng 31%; VPBank với hơn 38.000 tỷ đồng, tăng 21% và VietinBank với hơn 25.000 tỷ đồng, tăng 14%, cho thấy áp lực nợ xấu vẫn tập trung tại nhóm ngân hàng có quy mô tín dụng lớn. Còn về tốc độ, ABBank dẫn đầu khi dư nợ xấu tăng tới 62% chỉ sau nửa đầu năm; TPBank ghi nhận mức tăng 59%, HDBank tăng 38%, trong khi BIDV, PGBank và MB lần lượt tăng 31%, 30% và 27%. Nếu xét theo tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ cho vay, Sacombank tiếp tục đứng đầu với 7,54%, theo sau là NCB (6,43%), OCB (3,64%), BVBank (3,30%) và VPBank (3,28%).
Ngược lại, chỉ số ít ngân hàng cải thiện được chất lượng tài sản khi quy mô nợ xấu giảm, gồm VietBank giảm 27%, Nam A Bank giảm 24% và Saigonbank giảm 1%. Trong khi đó, Vietcombank có tỷ lệ nợ xấu thấp nhất hệ thống với 0,61%, tiếp đến là ACB (1,03%), Techcombank (1,08%), BAC A BANK (1,13%) và VietinBank (1,2%), phản ánh sự khác biệt đáng kể về chất lượng tài sản cũng như khẩu vị rủi ro giữa các ngân hàng.
Khi tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLR) tiếp tục suy giảm tại nhiều nhà băng, phản ánh áp lực chất lượng tài sản ngày càng rõ nét. Theo số liệu từ Wigroup, LLR bình quân toàn ngành tiếp tục giảm từ khoảng 83% cuối năm 2025 xuống còn khoảng 79% vào cuối quý II/2026, phản ánh tốc độ gia tăng của nợ xấu đang nhanh hơn khả năng tích lũy dự phòng tại nhiều ngân hàng.
Vietcombank tiếp tục duy trì vị trí dẫn đầu với LLR lên tới 279%, cao nhất hệ thống. Kế đến là BAC A BANK (135%), VietinBank (134%), Techcombank (126%) và ACB (105%), cho thấy nhóm ngân hàng này vẫn duy trì được “bộ đệm” dự phòng tương đối dày. Ngược lại, nhiều ngân hàng ghi nhận tỷ lệ bao phủ sụt giảm đáng kể so với cùng kỳ năm trước như Eximbank giảm từ 44% xuống 32%; TPBank từ 92% xuống 67%; ABBank từ 120% xuống 87%; BIDV từ 100% xuống 76%; LPBank từ 74% xuống 67%...
Một số ngân hàng tiếp tục duy trì tỷ lệ bao phủ ở mức thấp: Saigonbank (36%), BVBank và PGBank (43%), VIB (44%), HDBank (50%), MSB (52%), VPBank và Sacombank (57%). Đáng chú ý, dù cải thiện so với cùng kỳ năm trước, NCB vẫn là ngân hàng có tỷ lệ bao phủ thấp nhất nhóm khảo sát khi mới đạt 19%. Việc LLR tiếp tục đi xuống trong bối cảnh nợ xấu gia tăng cho thấy nhiều ngân hàng đang phải cân đối giữa mục tiêu tăng trưởng lợi nhuận và yêu cầu tăng cường trích lập dự phòng nhằm củng cố khả năng chống chịu trước rủi ro tín dụng. Chẳng hạn, Sacombank và Eximbank ghi nhận lợi nhuận giảm 50% trong nửa đầu năm do trích lập dự phòng tăng 2,5 lần. Đây cũng được xem là một trong những áp lực lớn của ngành ngân hàng trong thời gian còn lại của năm 2026.
Tiếp tục xu hướng đi lên nửa cuối năm
Nợ xấu và nợ cần chú ý tăng cao trong quý II/2026 là hệ quả của mặt bằng lãi suất cho vay tăng nhanh, từ đó ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng, đặc biệt ở phân khúc bán lẻ. Dù vậy, việc hạ lãi suất không dễ khi tín dụng đang tăng cao hơn huy động và giá vốn đầu vào của các ngân hàng ngày càng đắt đỏ.
SSI Research cho rằng, chất lượng tài sản đang có dấu hiệu phân hóa rõ hơn giữa các ngân hàng. Nợ xấu toàn ngành tăng 21,4% từ đầu năm, tập trung ở những ngân hàng như VietinBank, Sacombank, HDBank và BIDV, còn phần lớn các ngân hàng khác duy trì tương đối ổn định.
Theo SSI Research, tỷ lệ nợ xấu toàn ngành đã lên mức cao nhất của quý II/2026 kể từ năm 2020. Cùng với đó, đà phục hồi của biên lãi ròng (NIM) trong nửa cuối năm cũng sẽ chịu sức ép khi chi phí vốn tăng nhanh hơn, còn nhu cầu vốn trung và dài hạn tiếp tục ở mức cao do các dự án hạ tầng trọng điểm bước vào giai đoạn triển khai.
SSI Research đánh giá, quy mô rủi ro của ngành ngân hàng đã mở rộng hơn so với cuối năm trước, nhưng chưa đến mức tạo ra rủi ro mang tính hệ thống. Theo dự báo của đơn vị này, tỷ lệ nợ xấu (NPL) toàn ngành ngân hàng vào cuối năm 2026 có thể ở mức khoảng 1,8% - nhích lên so với mức 1,76% cuối năm 2025, trong khi dư nợ nhóm 2 dự kiến tăng lên khoảng 1,4%.
Trường hợp lãi suất huy động tiếp tục duy trì ở mức cao, áp lực trả nợ của người vay có thể gia tăng trong 2 quý cuối năm, từ đó ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của một số ngân hàng có tỷ trọng cho vay mua nhà lớn. Bên cạnh đó, nhu cầu tái cấp vốn của các doanh nghiệp bất động sản cũng là yếu tố đáng lưu ý. Theo SSI Research, dư nợ cho vay với các chủ đầu tư dự án đã tăng thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng kể từ cuối năm 2023. Thêm vào đó, khoảng 76.000 tỷ đồng trái phiếu doanh nghiệp (không bao gồm trái phiếu ngân hàng) sẽ đáo hạn trong nửa cuối năm 2026 và thêm khoảng 108.000 tỷ đồng trong năm 2027. Áp lực thanh toán lượng trái phiếu này sẽ phụ thuộc lớn vào diễn biến của thị trường bất động sản cũng như khả năng cải thiện dòng tiền của doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, LLR tiếp tục giảm xuống khoảng 83% trong quý II/2026, thấp hơn mức 86% của quý trước đó và mức 95% cùng kỳ năm trước. Thế nhưng, SSI Research vẫn kỳ vọng lợi nhuận tăng trưởng trong nửa cuối năm 2026 nhờ tín dụng duy trì tích cực. Dù vậy, mức độ phân hóa giữa các ngân hàng cũng được dự báo sẽ rõ nét hơn, phụ thuộc vào sức mạnh nguồn vốn, chất lượng tài sản, khả năng trích lập dự phòng của từng nhà băng.
Ông Loic Faussier - Quyền Tổng giám đốc Sacombank cho biết, Ngân hàng đang ở tình thế nan giải khi NIM bị thu hẹp, tỷ lệ nợ xấu ước tính có thể tăng lên 7,4%, chi phí dự phòng vì thế có thể tăng lên hơn 4.700 tỷ đồng, thuộc nhóm cao nhất ngành. Lợi nhuận trước thuế quý II/2026 sau dự phòng giảm xấp xỉ 50% so với cùng kỳ và tiếp nối đà giảm từ đầu năm nay.
Lãnh đạo Sacombank cũng cho hay, trong quá trình rà soát và phản ánh đầy đủ chất lượng tài sản, dư nợ thuộc nhóm có mức độ rủi ro cao nhất (nợ nhóm 5 - nợ có khả năng mất vốn) có thể tiếp tục gia tăng, kéo theo quy mô nợ xấu tăng từ khoảng 62.000 tỷ đồng tại thời điểm 30/6/2026 lên hơn 86.000 tỷ đồng, chưa bao gồm nợ CIC và con số này có thể lớn hơn trong quý III/2026 nên lợi nhuận có thể giảm.
Theo TS. Châu Đình Linh, Trường đại học Ngân hàng TP.HCM, bức tranh xử lý nợ xấu trong thời gian tới sẽ phân hóa rõ giữa các nhóm ngân hàng. Các ngân hàng lớn có lợi thế hơn nhờ hệ thống quản trị rủi ro hoàn chỉnh, nguồn lực tài chính mạnh và kinh nghiệm xử lý nợ hiệu quả, trong khi các ngân hàng nhỏ sẽ gặp khó khăn hơn do chất lượng tài sản bảo đảm thấp và áp lực nợ tồn đọng kéo dài.
Công ty Chứng khoán Vietcombank (VCBS) đưa ra nhận định, rủi ro nợ xấu của hệ thống ngân hàng năm 2026 cần được theo dõi chặt chẽ, nhất là tại những ngân hàng có tỷ trọng cho vay kinh doanh bất động sản vượt 30% tổng dư nợ. Thực tế, áp lực đảo nợ từ nhóm bất động sản và cho vay mua nhà có thể tiếp tục gia tăng trong năm 2026 do áp lực lãi vay tăng cao.