Chuyển đổi số ngân hàng phải đi cùng an toàn dữ liệu
Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Quyết định số 2345/QĐ-NHNN và Thông tư số 50/2024/TT-NHNN với nhiều yêu cầu mới về xác thực giao dịch, quản lý thiết bị và lưu trữ dữ liệu. Theo ông, những quy định này mang ý nghĩa như thế nào trong việc nâng cao tính minh bạch của giao dịch, hỗ trợ xác minh khi xảy ra sự cố và bảo vệ quyền lợi của khách hàng?
Việc ban hành Quyết định số 2345/QĐ-NHNN và Thông tư số 50/2024/TT-NHNN (được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 77/2025/TT-NHNN) thể hiện quan điểm nhất quán của Ngân hàng Nhà nước: Phát triển dịch vụ ngân hàng số phải đi đôi với bảo đảm an toàn, bảo mật và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng. Trong bối cảnh các đối tượng tội phạm ngày càng đẩy mạnh hoạt động lừa đảo, chiếm quyền điều khiển thiết bị và sử dụng tài khoản mua, bán, cho thuê, cho mượn để chuyển tiền bất hợp pháp, các quy định này tạo thêm những lớp bảo vệ từ khâu nhận diện khách hàng, xác thực giao dịch đến giám sát và lưu giữ dấu vết điện tử.
![]() |
Ông Lê Hoàng Chính Quang - Cục trưởng Cục Công nghệ thông tin, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) |
Các quy định của Ngân hàng Nhà nước yêu cầu thiết lập cơ chế xác thực tương ứng với loại giao dịch và mức độ rủi ro. Đối với các giao dịch thuộc nhóm rủi ro cao, khách hàng phải được khớp đúng thông tin sinh trắc học với dữ liệu đã được kiểm tra, đối chiếu theo quy định. Giải pháp đối khớp sinh trắc học phải đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế ISO 30107 Level 2. Khi khách hàng thực hiện giao dịch lần đầu trên ứng dụng Mobile Banking hoặc trên thiết bị khác với thiết bị sử dụng gần nhất, tổ chức cung ứng dịch vụ phải thực hiện biện pháp kiểm tra, xác thực tăng cường bằng sinh trắc học.
Qua đó, giao dịch được gắn với chủ tài khoản, hạn chế nguy cơ kẻ gian chỉ cần chiếm đoạt tên đăng nhập, mật khẩu hoặc mã OTP đã có thể chuyển tiền, góp phần minh bạch các giao dịch. Đồng thời, thiết bị khách hàng cài đặt ứng dụng Mobile Banking để sử dụng các dịch vụ ngân hàng trực tuyến phải bảo đảm an toàn: Không bị bẻ khóa (root/jaibreak), không bị can thiệp bởi trình gỡ lỗi hoặc chạy trên môi trường giả lập… Nếu có những dấu hiệu này thì ứng dụng Mobile Banking phải tự động thoát hoặc dừng hoạt động và thông báo cho khách hàng.
Mục tiêu của Ngân hàng Nhà nước là xây dựng hệ sinh thái số ngành ngân hàng an toàn, hiện đại, có khả năng chống chịu cao, đồng thời bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp.
Để hỗ trợ xác minh các giao dịch, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu Hệ thống Online Banking phải ghi nhận và lưu trữ đầy đủ, chi tiết nhật ký giao dịch của khách hàng bao gồm các thông tin cơ bản như thiết bị thực hiện, mã giao dịch, mã khách hàng, thời điểm khởi tạo, loại và giá trị giao dịch, hình thức và thời điểm xác nhận. Các thông tin này phải được lưu trữ trực tuyến tối thiểu 3 tháng và sao lưu tối thiểu 1 năm; trường hợp xác nhận giao dịch bằng hình thức khớp đúng thông tin sinh trắc học, tổ chức cung ứng dịch vụ phải lưu trữ thông tin sinh trắc học của khách hàng khi thực hiện giao dịch đối với tối thiểu 10 giao dịch gần nhất của khách hàng đó.
Bên cạnh việc triển khai các giải pháp kỹ thuật, để tăng cường bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng, các ngân hàng phải triển khai đồng bộ các hoạt động sau:
Một là, công bố đầy đủ, chi tiết thông tin về các dịch vụ Online Banking cho khách hàng (danh sách dịch vụ cung cấp; điều kiện và phương thức sử dụng dịch vụ; quyền và nghĩa vụ của khách hàng...).
Hai là, hướng dẫn khách hàng sử dụng dịch vụ Online Banking an toàn (truyền thông tới khách hàng nhận diện về các rủi ro, các hình thức lừa đảo của tội phạm mạng và giải pháp phòng tránh; hướng dẫn khách hàng bảo mật thông tin, tài khoản ngân hàng, đặc biệt là việc không chia sẻ mã khóa bí mật, mã OTP cho kẻ lừa đảo, không truy cập đường link lạ hoặc cài đặt các phần mềm không rõ nguồn gốc dẫn đến việc bị chiếm quyền điều khiển thiết bị).
Có thể khẳng định, ý nghĩa cốt lõi của các quy định nêu trên của Ngân hàng Nhà nước là nâng cao khả năng nhận diện đúng chủ thể, bảo đảm tính toàn vẹn và khả năng truy vết của giao dịch, đồng thời xác lập rõ hơn trách nhiệm của tổ chức cung ứng dịch vụ trong phòng ngừa, phát hiện và xử lý sự cố. Qua đó, quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng được bảo vệ tốt hơn, niềm tin vào dịch vụ ngân hàng số được củng cố và quá trình chuyển đổi số của ngành được triển khai theo hướng an toàn, minh bạch, bền vững.
Trong bối cảnh AI, Deepfake và các hình thức tấn công mạng liên tục thay đổi, Ngân hàng Nhà nước có định hướng gì trong việc tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, nâng cao tiêu chuẩn an toàn và tăng cường khả năng phòng chống gian lận của hệ thống ngân hàng?
Ngân hàng Nhà nước xác định 3 trọng tâm là hoàn thiện thể chế, nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống và tăng cường hiệu quả phòng, chống gian lận.
Trước hết, trong năm 2026, Ngân hàng Nhà nước đang xây dựng Thông tư quy định về an toàn, quản lý rủi ro và điều kiện triển khai đối với việc ứng dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo trong ngành, đồng thời nghiên cứu sửa đổi Thông tư số 09/2020/TT-NHNN về an toàn hệ thống thông tin trong hoạt động ngân hàng. Việc hoàn thiện các quy định này nhằm bảo đảm an toàn trong tiến trình chuyển đổi số, ứng dụng AI và các công nghệ mới; nâng cao khả năng chống chịu trước rủi ro an ninh mạng, gian lận và lừa đảo công nghệ cao; đồng thời, từng bước yêu cầu áp dụng các tiêu chuẩn, thông lệ quốc tế.
Song song với hoàn thiện thể chế, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục chỉ đạo các tổ chức tín dụng tăng cường đầu tư cho hạ tầng an toàn thông tin, nâng cao năng lực giám sát, phát hiện và ứng phó theo thời gian thực; đẩy mạnh ứng dụng AI, dữ liệu lớn (Big Data) và các công nghệ mới trong nhận diện giao dịch bất thường, phòng, chống Deepfake, giả mạo sinh trắc học và các hình thức gian lận mới.
Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước đã xây dựng và triển khai Hệ thống thông tin hỗ trợ quản lý, giám sát và phòng ngừa rủi ro gian lận trong hoạt động thanh toán (SIMO). Đến hết tháng 6/2026, hệ thống đã thu thập thông tin từ 147 đơn vị, cung cấp cho 14 đơn vị khai thác, sử dụng, đã có hơn 4,6 triệu lượt cảnh báo tới khách hàng; hơn 1,5 triệu giao dịch đã được khách hàng chủ động dừng sau khi nhận cảnh báo, góp phần bảo vệ khoảng 5.200 tỷ đồng trước nguy cơ gian lận. Thời gian tới, Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục mở rộng kết nối SIMO, tăng cường chia sẻ dữ liệu rủi ro giữa các tổ chức tín dụng, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán và các cơ quan chức năng nhằm nâng cao hiệu quả cảnh báo, giám sát và phòng ngừa gian lận.
Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước đã và đang phối hợp chặt chẽ với Bộ Công an trong bảo đảm an ninh mạng, phòng, chống tội phạm công nghệ cao và lừa đảo trực tuyến; xử lý tài khoản không chính chủ, tài khoản và ví điện tử liên quan đến hành vi vi phạm; đồng thời chia sẻ thông tin phục vụ điều tra, ngăn chặn và thu hồi tài sản.
Mục tiêu của Ngân hàng Nhà nước là xây dựng hệ sinh thái số ngành ngân hàng an toàn, hiện đại, có khả năng chống chịu cao, đồng thời bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp.
Từ góc độ cơ quan quản lý, Ngân hàng Nhà nước mong muốn hệ sinh thái ngân hàng số của Việt Nam sẽ phát triển theo hướng nào trong những năm tới để vừa thúc đẩy đổi mới sáng tạo, vừa bảo đảm an toàn cho khách hàng và sự ổn định của hệ thống tài chính?
Ngân hàng Nhà nước định hướng hệ sinh thái ngân hàng số Việt Nam trong những năm tới phát triển theo hướng hiện đại, linh hoạt, liên thông, an toàn, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm. Sự phát triển của ngân hàng số không chỉ được đánh giá bằng số lượng sản phẩm, ứng dụng hay tốc độ tăng trưởng giao dịch, mà quan trọng hơn là khả năng cung cấp dịch vụ thuận tiện, minh bạch, chi phí hợp lý, mở rộng tiếp cận tài chính và duy trì niềm tin của khách hàng. Hệ sinh thái ngân hàng số cũng cần bảo đảm tính bao trùm, góp phần thu hẹp khoảng cách tiếp cận dịch vụ giữa các khu vực và nhóm khách hàng. Sản phẩm số cần dễ sử dụng, phù hợp với năng lực và nhu cầu của người dân, doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ, người dân tại khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa; đồng thời gắn với giáo dục tài chính, nâng cao kỹ năng số và nhận thức về phòng, chống lừa đảo.
Ngân hàng Nhà nước khuyến khích các tổ chức tín dụng chủ động ứng dụng công nghệ mới như Big Data, AI, điện toán đám mây, định danh và xác thực điện tử để đổi mới quy trình, cá nhân hóa dịch vụ, nâng cao trải nghiệm khách hàng và tăng khả năng nhận diện, quản trị rủi ro. Dữ liệu phải được quản trị đầy đủ, chính xác, an toàn; được khai thác đúng mục đích, đúng thẩm quyền và phù hợp với quy định pháp luật. Đối với AI, việc ứng dụng cần lấy con người làm trung tâm, có cơ chế giám sát phù hợp và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng. Đây là định hướng đã được lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước nhấn mạnh tại Hội nghị Công nghệ thông tin ngành ngân hàng 2026.
Đối với những sản phẩm, dịch vụ và mô hình kinh doanh mới chưa được pháp luật điều chỉnh đầy đủ sẽ được Ngân hàng Nhà nước rà soát, đánh giá và triển khai cơ chế thử nghiệm có kiểm soát nếu cần thiết trên cơ sở phù hợp với thực tiễn hoạt động ngành ngân hàng và các quy định của pháp luật có liên quan. Thông qua quá trình thử nghiệm, cơ quan quản lý có cơ sở đánh giá lợi ích, rủi ro, tác động đối với khách hàng và hệ thống trước khi xem xét hoàn thiện chính sách hoặc cho phép triển khai rộng hơn.
Cùng với thúc đẩy đổi mới, an toàn phải được tích hợp ngay từ khâu thiết kế và trong toàn bộ vòng đời của sản phẩm, dịch vụ. Các tổ chức cung ứng dịch vụ cần đầu tư tương xứng cho an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu, định danh và xác thực khách hàng, giám sát giao dịch bất thường; phòng, chống gian lận và bảo đảm hoạt động liên tục với nguyên tắc cốt lõi của an toàn số “phòng thủ chủ động”. Đồng thời, cần kiểm soát rủi ro từ đối tác công nghệ, dịch vụ thuê ngoài và các kết nối với bên thứ ba; công khai, minh bạch điều kiện sử dụng, chi phí, quyền lợi của khách hàng và duy trì cơ chế tiếp nhận, xử lý kịp thời các phản ánh, khiếu nại.
An toàn số là điều kiện bắt buộc để phát triển, là nền tảng của niềm tin, là trách nhiệm quản trị và vận hành của từng đơn vị. Về phía cơ quan quản lý, Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và tiêu chuẩn kỹ thuật; nâng cao năng lực kiểm tra, giám sát trên cơ sở rủi ro; tăng cường cảnh báo sớm rủi ro công nghệ, rủi ro hoạt động, gian lận và các nguy cơ có thể ảnh hưởng đến hoạt động liên tục và an toàn các hệ thống thông tin của các tổ chức tín dụng.
Mục tiêu là hình thành một hệ sinh thái ngân hàng số có khả năng đổi mới liên tục nhưng phát triển trong khuôn khổ minh bạch, có trách nhiệm và được quản trị rủi ro phù hợp. Qua đó, công nghệ thực sự tạo thêm giá trị cho người dân, doanh nghiệp, nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành ngân hàng, đồng thời bảo vệ khách hàng và góp phần duy trì sự an toàn, ổn định của hệ thống tài chính.
