Các luật thuế mới là “bệ đỡ” cho doanh nghiệp năm 2026

(ĐTCK)  Theo Luật sư Đặng Thành Chung, Giám đốc Công ty luật TNHH An Ninh, các luật thuế vừa được Quốc hội ban hành không đứng riêng lẻ, mà đặt trong tổng thể tư duy cải cách. Đây là bệ đỡ quan trọng để doanh nghiệp phát triển trong năm 2026 và xa hơn.
Luật sư Đặng Thành Chung, Giám đốc Công ty luật TNHH An Ninh

Quốc hội vừa ban hành một loạt các luật về thuế như: Luật Quản lý thuế, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Thuế thu nhập cá nhân và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng... qua đó đã góp phần tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy doanh nghiệp phát triển. Ý kiến của ông về vấn đề này như thế nào?

Xét về khía cạnh kinh tế, thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước và doanh nghiệp là đối tượng nộp thuế chiếm tỷ lệ lớn so với các thành phần kinh tế khác. Vì vậy, việc ban hành các luật về thuế sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ đến doanh nghiệp.

Tôi cho rằng việc Quốc hội ban hành một loạt các luật về thuế như: Luật Quản lý thuế, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN), Luật Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng (GTGT)... là hết sức cần thiết và kịp thời.

Bởi lẽ, có những sắc thuế đã được ban hành và áp dụng chỉ phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội của nhiều năm về trước như Luật Thuế TNCN năm 2007; Luật Thuế TNDN năm 2008 và Luật Thuế GTGT năm 2008, dù đã được sửa đổi, bổ sung nhiều lần, nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu thay đổi nhanh chóng của đời sống kinh tế - xã hội và tương thích với mục tiêu cải cách, tạo cơ hội cho doanh nghiệp phát triển. Chính vì thế, những quy định cũ đang là rào cản cho đầu tư, phát triển của doanh nghiệp trong thời điểm hiện tại.

Do đó, việc Quốc hội ban hành các luật thuế mới đã góp phần tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy doanh nghiệp phát triển theo đúng tinh thần Nghị quyết số 68 -NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân; doanh nghiệp với vai trò quan trọng của kinh tế tư nhân, cần có khung hành lang pháp lý về thuế phù hợp để củng cố niềm tin, tạo khí thế và xung lực mới cho phát triển kinh tế, là động lực thúc đẩy tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Xét về tổng thể, các luật vừa được sửa đổi, bổ sung vừa qua không đứng riêng lẻ mà đặt trong tổng thể tư duy cải cách - lấy doanh nghiệp làm trung tâm cải cách. Ông có cho rằng đây chính là bệ đỡ quan trọng để doanh nghiệp phát triển trong năm 2026?

Chính sách thuế rõ ràng, minh bạch, giảm thiểu chi phí tuân thủ góp phần hỗ trợ doanh nghiệp tự do kinh doanh, đổi mới sáng tạo. Đây là bệ đỡ quan trọng để doanh nghiệp phát triển.

Pháp luật hiện nay đang có nhiều sự thay đổi tích cực khi việc ban hành sửa đổi luôn đặt trong tư duy lấy đối tượng điều chỉnh là trung tâm để ban hành các quy định của pháp luật. Doanh nghiệp - là trung tâm thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế.

Khi tư duy xây dựng, soạn thảo văn bản được đồng bộ, không đứng riêng lẻ mà đặt trong tổng thể tư duy cải cách - lấy doanh nghiệp làm trung tâm cải cách, sẽ tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, pháp lý rõ ràng, minh bạch hơn trong khi giảm thiểu chi phí không cần thiết, đơn giản hoá thủ tục hành chính, là công cụ góp phần hỗ trợ doanh nghiệp tự do kinh doanh, đổi mới sáng tạo nhưng vẫn đảm bảo sự tuân thủ quy định pháp luật, sự quản lý điều tiết của Nhà nước.

Đây chính là bệ đỡ quan trọng để doanh nghiệp phát triển, cạnh tranh lành mạnh, thu hút đầu tư và góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững.

Theo ông, ưu đãi thuế và một môi trường thuế minh bạch, dễ tuân thủ, chi phí thấp thì đâu là yếu tố quan trọng đối với doanh nghiệp?

Tôi cho rằng ưu đãi thuế hay môi trường thuế minh bạch, dễ tuân thủ, chi phí thấp đều quan trọng đối với doanh nghiệp theo nhiều góc độ nhìn nhận khác nhau. Đối với việc kinh doanh thì tất nhiên môi trường thuế minh bạch, dễ tuân thủ, chi phí thấp sẽ là điều doanh nghiệp luôn mong muốn, vì tạo điều kiện cho doanh nghiệp dễ dàng thực hiện việc kinh doanh song hành cùng tuân thủ quy định, hạn chế các chi phí phát sinh cho việc kiểm tra tuân thủ các quy định thuế.

Đặc biệt, môi trường thuế minh bạch như hiện nay sẽ không trở thành rào cản khiến những người mới chần chừ, e ngại việc thành lập doanh nghiệp hay gây khó khăn cho các doanh nghiệp mới thành lập vốn còn thiếu nhân sự, nguồn vốn ít không dám kinh doanh đa dạng ngành nghề.

Tuy nhiên, đối với các doanh nghiệp kinh doanh lĩnh vực mới như khoa học, công nghệ, sáng tạo hoặc doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì điều họ quan tâm trước hết lại là các ưu đãi thuế. Các chính sách ưu đãi thuế là bước khởi đầu họ tìm hiểu để quyết định có thành lập doanh nghiệp kinh doanh hay không, hay có đầu tư vào thị trường Việt Nam hay không.

Đối với mục tiêu thực hiện phát triển kinh tế tại các vùng kinh tế khó khăn, vùng đặc biệt khó khăn, vùng núi, hải đảo xa xôi thì ngoài môi trường thuế minh bạch, dễ tuân thủ, chi phí thấp thì rất cần các chính sách ưu đãi thuế cho nhóm đối tượng, khu vực địa lý này để tạo động lực tự chủ, phát triển kinh tế.

Có thể nói, ưu đãi thuế quan trọng ở thời điểm đầu, nhưng so sánh với môi trường thuế minh bạch thì ưu đãi thuế có tính ngắn hạn hơn, chỉ trong một thời gian, một số lĩnh vực và kèm theo những điều kiện đi kèm để được hưởng ưu đãi thuế. Lúc này các doanh nghiệp đã hoạt động được bình thường rất cần môi trường thuế minh bạch, dễ tuân thủ, chi phí thấp, nhất là đối với các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, đây chính là điểm thu hút đầu tư nguồn vốn FDI.

Ông đánh giá thế nào về vai trò của chính sách thuế trong việc chuyển từ “quản lý - thu ngân sách” sang “đồng hành - kiến tạo phát triển doanh nghiệp”?

Việc thay đổi chính sách thuế trong việc chuyển từ “quản lý - thu ngân sách” sang “đồng hành - kiến tạo phát triển doanh nghiệp” không chỉ là việc thay đổi về hình thức, cách thức thực hiện, mà quan trọng hơn cả là sự thay đổi tư duy quản lý trong quan hệ giữa Nhà nước và doanh nghiệp. Về vai trò của chính sách này, có thể kể đến một số nội dung nổi bật như sau:

Thứ nhất, thay đổi mô hình từ kiểm soát cưỡng chế sang công cụ tạo đòn bẩy và động lực. Trong chính sách truyền thống, chính sách thuế chủ yếu tập trung và được nhìn nhận như một công cụ quản lý, điều phối và thu ngân sách nhà nước, nhấn mạnh vào sự kiểm soát, thanh tra và xử lý. Với chính sách thuế đổi mới sang đồng hành - kiến tạo phát triển đã thay đổi chính sách thuế thành một công cụ hữu hiệu trong việc tạo động lực (ưu đãi thuế, hoãn, miễn giảm thuế...). Thuế không còn là công cụ thu, mà còn định hướng phát triển kinh tế.

Thứ hai, tạo lập một môi trường kinh doanh minh bạch, rõ ràng và ổn định. Chính sách thuế định hướng việc ban hành các quy phạm pháp luật. Vì vậy, để tạo ra một chính sách thuế “đồng hành” thì pháp luật về thuế cần đơn giản và ổn định, giảm mọi chi phí và thủ tục phức tạp, không cần thiết cho doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ, khởi nghiệp trong các lĩnh vực mới.

Thứ ba, xây dựng mối quan hệ giữa Nhà nước và doanh nghiệp. Doanh nghiệp được nhìn nhận như một đối tác, một người đồng hành với Nhà nước trong quá trình phát triển. Vì vậy, với chính sách mới, cơ quan thuế đóng vai trò như người tư vấn, trợ giúp thay vì chỉ xử lý vi phạm.

Cuối cùng, việc chuyển từ “quản lý - thu ngân sách” sang “đồng hành - kiến tạo góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài. Thuế và các thủ tục hành chính là bước đầu tiên các doanh nghiệp nước ngoài tham gia vào thị trường quan tâm. Vì vậy, một chính sách và hệ thống thuế lành mạnh, hiệu quả sẽ góp phần khuyến khích doanh nghiệp lựa chọn đầu tư, xây dựng chiến lược phát triển dài hạn, hoặc liên kết để phát triển ổn định, lâu dài.

Ông có khuyến nghị gì để chính sách thuế thực sự trở thành đòn bẩy cạnh tranh quốc gia, thu hút dòng vốn đầu tư dài hạn?

Theo tôi, để chính sách thuế thực sự trở thành đòn bẩy cạnh tranh quốc gia, thu hút dòng vốn đầu tư dài hạn cần tiếp cận, xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật thuế theo hướng trọng tâm như sau:

Thứ nhất, đảm bảo tính ổn định và khả năng dự báo trong chính sách thuế. Một khoản đầu tư an toàn là một khoản có tính ổn định cao và chính sách thuế cũng không ngoại lệ khi xét về khía cạnh cạnh tranh quốc gia và thu hút dòng vốn. Việc thay đổi chính sách đột ngột sẽ khiến cho các nhà đầu tư, hay doanh nghiệp lo ngại khi thành lập doanh nghiệp hay phát triển. Bởi lẽ việc tìm hiểu, phân tích các quy định, chính sách thuế để tìm ra hướng đi phù hợp với doanh nghiệp mất nhiều thời gian, công sức và chi phí. Việc chính sách thuế đầy biến động sẽ là rủi ro lớn đối với doanh nghiệp khi hoạt động nên cần có sự đảm bảo tính ổn định chính sách thuế của Nhà nước.

Thứ hai, giảm thiểu các chi phí tuân thủ về thuế. Thuế suất được quy định rõ ràng trong văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, việc thực hiện các thủ tục hành chính liên quan đến thuế lại khá phức tạp. Vì vậy, việc đơn giản hóa và giảm thiểu các chi phí liên quan đến thủ tục và cách áp dụng thuế thống nhất giữa các địa phương sẽ giảm chi phí tuân thủ về thuế một cách hiệu quả.

Thứ ba, xây dựng và thực hiện chính sách thuế phù hợp với chuẩn mực quốc tế. Trong bối cảnh toàn cầu và hội nhập về mọi mặt của đời sống, Việt Nam cần xây dựng, áp dụng và thực thi các chính sách thuế phù hợp với tiêu chuẩn chung quốc tế và có sự phân loại phù hợp với đặc điểm nền kinh tế, thị trường quốc gia. Đây sẽ là đòn bẩy quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, thu hút dòng vốn đầu tư dài hạn.

Nhật Minh thực hiện.

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục