Biên lãi thuần của ngân hàng tiếp tục chịu sức ép

(ĐTCK) Chi phí đầu vào vẫn tăng khiến biên lãi thuần (NIM) của ngân hàng trở nên mỏng dần.
Lãi suất cho vay của các ngân hàng luôn có độ trễ với đà tăng của lãi suất huy động

CASA giảm, chi phí đầu vào tăng

Mặt bằng lãi suất huy động tiếp tục tăng trong thời gian gần đây, với kỳ hạn 6 - 12 tháng được không ít ngân hàng trả ở mức 7 - 9%/năm. Thậm chí, ở một số ngân hàng nhỏ, lãi suất tiết kiệm có thể lên tới 9,1 - 9,2%/năm cho kỳ hạn trên, khiến nguồn tiền gửi không kỳ hạn giảm đáng kể tại các ngân hàng.

Báo cáo tài chính riêng lẻ quý II/2026 của VPBank cho thấy, nửa đầu năm nay, Ngân hàng đã cho vay hơn 200.000 tỷ đồng (tín dụng tăng 24,8%) trong khi chỉ huy động được 100.000 tỷ đồng tiền gửi (tăng 15,8%). Đáng lưu ý, giá vốn tại VPBank tăng lên khi tiền gửi không kỳ hạn (CASA) giảm cả về giá trị tuyệt đối lẫn tỷ trọng (CASA chỉ còn 12,5%, so với mức 14,6% vào cuối năm trước).

Tại LPBank, tính đến cuối tháng 6/2026, tín dụng tăng 9,8% so với cuối năm ngoái, trong khi tiền gửi khách hàng chỉ tăng 4,7% trong cùng thời gian. Trong 6 tháng đầu năm nay, ngân hàng này chỉ thu hút thêm được 16.000 tỷ đồng tiền gửi, trong khi cho vay ra tới 38.000 tỷ đồng. CASA của LPBank giảm tới 6.000 tỷ đồng, tương ứng giảm 22% về giá trị. Tỷ trọng CASA trong tổng tiền gửi khách hàng giảm từ mức 8,45% cuối năm ngoái xuống còn 6,3% vào thời điểm 30/6/2026.

Tình trạng tương tự cũng xuất hiện tại nhiều nhà băng khác. Điều này phản ánh rõ xu hướng dịch chuyển dòng tiền của người dân: thay vì để tiền trong tài khoản thanh toán, họ chuyển sang gửi có kỳ hạn để tận dụng mức lãi suất cao hơn.

Trước đó, dữ liệu từ Wigroup cho thấy, tỷ lệ CASA bình quân của 27 ngân hàng đã giảm từ 15,18% vào cuối năm 2025 xuống còn 13,77% vào cuối quý I/2026. Có tới 24/27 ngân hàng ghi nhận CASA suy giảm. Sự suy giảm của CASA đang trực tiếp đẩy chi phí vốn của các ngân hàng lên cao. Khi nguồn vốn không kỳ hạn co lại, các ngân hàng buộc phải cạnh tranh mạnh hơn ở kênh tiền gửi có kỳ hạn, đồng nghĩa với việc duy trì mặt bằng lãi suất huy động cao.

Áp lực lên NIM chủ yếu đến từ sự lệch pha giữa tốc độ tăng chi phí vốn và thu nhập lãi. Áp lực chi phí vốn gắn với trạng thái thanh khoản của hệ thống. Đáng chú ý khi chênh lệch tăng trưởng huy động - cho vay vẫn lớn. Ngân hàng Nhà nước cho hay, đến ngày 29/7/2026, tổng dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế đạt 20,15 triệu tỷ đồng, tăng 8,3% so với cuối năm ngoái và tốc độ tăng trưởng huy động vốn vẫn chậm hơn, hụt hơn 2 triệu tỷ đồng so với tăng trưởng tín dụng. Thực tế cho thấy, trong 6 tháng đầu năm, không ít nhà băng sụt giảm về tiền gửi như Bac A Bank (giảm 5,4%), Saigonbank (giảm 4,3%), Eximbank (giảm 3,9%) và ACB (giảm 1,5%), trong khi tín dụng vẫn tăng trưởng.

Theo đánh giá của ông Bùi Văn Huy, Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc Khối Nghiên cứu Đầu tư Công ty cổ phần FIDT, NIM của ngành ngân hàng vẫn chịu áp lực trong ngắn hạn, đặc biệt trong quý II - III/2026. Nguyên nhân là chi phí vốn thường phản ánh với độ trễ sau giai đoạn lãi suất huy động tăng, trong khi lợi suất tài sản không thể điều chỉnh ngay cùng tốc độ. Các khoản vay trung dài hạn, khoản vay có lãi suất ưu đãi và áp lực hỗ trợ khách hàng khiến ngân hàng khó tăng lãi suất cho vay lên mức quá cao.

Giới phân tích nhận định, trong quý cuối năm, NIM có thể ổn định hơn, song khó cải thiện mạnh ngay. Bởi thực tế cho thấy điều kiện để NIM phục hồi gồm lãi suất huy động ngừng tăng (trong khi các dự báo đưa ra khó sớm giảm), CASA không giảm thêm và các khoản vay hiện hữu được tái định giá, tăng trưởng tín dụng tập trung vào các phân khúc có lợi suất hợp lý nhưng vẫn kiểm soát được rủi ro. Nếu chỉ tăng lãi suất cho vay để cải thiện NIM, ngân hàng có thể đối mặt với rủi ro nợ xấu cao hơn, nhất là ở nhóm khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa, bất động sản và bán lẻ…

Khó kỳ vọng NIM sớm tăng trở lại

Trong nửa cuối năm 2026, ngành ngân hàng được nhận định sẽ còn đối mặt với thách thức từ NIM thu hẹp và nợ xấu gia tăng. Tuy nhiên, sự phân hóa mạnh mẽ sẽ mang lại cơ hội chọn lọc tại các ngân hàng có nền tảng huy động và quản trị rủi ro vượt trội.

SSI Research dự báo lãi suất huy động sẽ duy trì ở mặt bằng hiện tại trước khi có thể giảm nhẹ vào cuối năm. Trong bối cảnh chi phí vốn tăng nhanh hơn tốc độ phục hồi của lợi suất tài sản sinh lãi, nhóm ngân hàng tư nhân dự kiến ghi nhận NIM còn sụt giảm nhẹ. Ngược lại, nhóm ngân hàng thương mại nhà nước nhờ cơ cấu nguồn vốn ổn định và chi phí vốn thấp hơn có thể phục hồi NIM khoảng 8 điểm cơ bản. Trong xu hướng này, thu nhập phí từ tài trợ thương mại, bảo lãnh và thư tín dụng dự phòng (L/C) sẽ trở thành đòn bẩy lợi nhuận quan trọng khi nguồn thu từ lãi bị kìm hãm.

Thanh khoản ngân hàng tiếp tục chịu sức ép khi tăng trưởng tín dụng vượt huy động, trong khi yêu cầu ổn định lạm phát và tỷ giá khiến dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước thu hẹp đáng kể so với năm 2025. Đây là một trong những nguyên nhân khiến mặt bằng lãi suất huy động tăng trong quý đầu năm và tiếp tục duy trì ở mức cao. Lãi suất huy động được giới phân tích dự báo, nhiều khả năng đã tiến sát vùng đỉnh, nhưng sẽ duy trì mặt bằng cao trong quý III trước khi hạ nhiệt dần từ cuối quý IV/2026. Kỳ vọng này được đưa ra trên cơ sở áp lực từ giá dầu và lạm phát có thể giảm bớt nếu tình hình địa chính trị quốc tế diễn biến thuận lợi, tỷ giá USD/VND tiếp tục ổn định, giải ngân đầu tư công tăng tốc giúp bổ sung thanh khoản cho hệ thống, cùng việc các giải pháp điều hành của Ngân hàng Nhà nước nhằm giảm áp lực huy động vốn phát huy hiệu quả từ quý III.

Ông Suan Teck Kin, Giám đốc Khối Nghiên cứu thị trường và Kinh tế toàn cầu, Ngân hàng UOB (Singapore) cho rằng, với lạm phát tổng thể bình quân 7 tháng đạt 4,39% và lạm phát cơ bản đạt 4,19% trong 7 tháng đầu năm 2026 đều dao động quanh ngưỡng điều hành 4,5% của Chính phủ Việt Nam, áp lực lạm phát hiện không còn đáng lo ngại như một tháng trước đó. Song theo chuyên gia UOB, đối với Ngân hàng Nhà nước, thách thức hiện nay là điều hành một nền kinh tế đang tăng trưởng mạnh hơn trong khi vẫn phải đối mặt áp lực lạm phát, cân đối đối ngoại, đồng thời theo dõi chặt chẽ diễn biến tỷ giá. Trong khi đó, áp lực lãi suất trên thị trường khó kỳ vọng giảm sâu.

NIM là một trong những chỉ số quan trọng nhất đối với hoạt động kinh doanh của ngành ngân hàng. Chỉ số này thể hiện chênh lệch giữa thu nhập lãi và chi phí lãi chia cho tài sản sinh lãi. NIM càng lớn đồng nghĩa mảng tín dụng, hoạt động cốt lõi của ngân hàng càng có khả năng sinh lời cao và lợi nhuận tăng. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, ngân hàng phải giữ ổn định lãi suất cho vay khiến NIM giảm, trong khi nguồn tiền gửi không kỳ hạn khó có thể tăng.

Vì thế, bên cạnh chi phí dự phòng tăng, nguyên nhân thứ hai khiến lợi nhuận sụt giảm đến từ sự thu hẹp của NIM và sự bế tắc trong hoạt động tín dụng. Trong khi đó, chi phí huy động vốn lại có xu hướng tăng cao, gây sức ép nặng nề lên biên lợi nhuận. Đặc biệt, tại Saigonbank, Sacombank, việc lãi suất huy động tăng trong khi đầu ra tín dụng hạn chế đã khiến hiệu quả kinh doanh bị ảnh hưởng, giảm 50% trong quý II/2026.

Ông Nguyễn Dương Phương, Trưởng phòng Trung tâm Phân tích Công ty Chứng khoán Shinhan Việt Nam (SSV) cho rằng, tăng trưởng tín dụng vẫn là động lực chính của lợi nhuận ngành ngân hàng trong năm 2026. Tuy nhiên, trong bối cảnh NIM khó mở rộng, các ngân hàng sẽ tập trung nhiều hơn vào việc tối ưu cơ cấu tài sản, kiểm soát chi phí vốn và nâng cao hiệu quả hoạt động. Bên cạnh đó, thu nhập ngoài lãi sẽ đóng vai trò ngày càng quan trọng. Lợi nhuận của toàn ngành năm 2026 - 2027 được SSV dự báo tăng trưởng 16 - 17%/năm, song tăng trưởng sẽ không đồng đều giữa các ngân hàng.

Vân Linh

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục