Biên lãi ròng của ngân hàng mỏng dần

0:00 / 0:00
0:00
(ĐTCK)  Lãi suất huy động tăng mạnh trong quý đầu năm, trong khi việc tăng lãi suất cho vay có độ trễ khiến biên lãi ròng (NIM) của các nhà băng tiếp tục bị bào mòn. Xu hướng này, được giới chuyên gia nhận định, chưa dễ đảo ngược trong ngắn hạn.
VPBank dẫn đầu ngành về NIM trong quý I/2026 nhờ chiến lược cân đối giữa lợi suất cao và rủi ro chất lượng tài sản VPBank dẫn đầu ngành về NIM trong quý I/2026 nhờ chiến lược cân đối giữa lợi suất cao và rủi ro chất lượng tài sản

Khó hồi phục trong ngắn hạn

Báo cáo tài chính quý I/2026 của 27 ngân hàng trên sàn chứng khoán cho thấy, NIM bình quân của nhóm này là 2,87%, giảm so với mức 2,93% ở quý IV/2025; trong đó, 20 ngân hàng ghi nhận NIM mỏng hơn.

Tăng trưởng tín dụng toàn ngành ngân hàng đạt mức cao kỷ lục 19,1% trong năm 2025, trong khi tăng trưởng huy động tiếp tục chậm hơn, đạt khoảng 14 - 15%. Sang quý đầu năm nay, trong khi tín dụng tăng trưởng 3,18% thì tăng trưởng huy động vốn chỉ đạt khoảng 1% và tiếp tục gia tăng áp lực lên thanh khoản hệ thống, thúc đẩy cuộc đua tăng lãi suất trong ngành. Mặt bằng lãi suất huy động đã tăng mạnh trong giai đoạn đầu quý I/2026, thậm chí vượt mốc 9%/năm ở một số khoản tiền gửi có kỳ hạn dài. Lãi suất trên thị trường liên ngân hàng cũng biến động mạnh, có thời điểm vọt lên 17%/năm (vào đầu tháng 2). Dù lãi suất cho vay ra được các ngân hàng điều chỉnh tăng, nhưng NIM vẫn chịu áp lực suy giảm do việc tăng lãi suất cho vay có độ trễ về thời gian so với đà tăng lãi suất huy động.

Trong hệ thống ngân hàng, tính đến cuối quý I/2026, VPBank có hệ số NIM cao nhất, đạt 5,17%. Kế đến là HDBank với 4,41%; KienlongBank với 4,06%; MB với 3,85% và Techcombank với 3,66%.

Ông Nguyễn Quang Huy, CEO Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường đại học Nguyễn Trãi nhận định, ngành ngân hàng trong quý I/2026 chịu sức ép kép khi vừa đối mặt với NIM suy giảm, vừa chứng kiến một số nguồn thu ngoài lãi đi xuống. Đây là tín hiệu cho thấy dư địa tăng trưởng lợi nhuận của ngành đang thu hẹp đáng kể so với giai đoạn trước.

Theo ông Huy, NIM trong các quý tới có thể cải thiện nhẹ nếu áp lực huy động dần hạ nhiệt và dòng tiền quay trở lại hệ thống ngân hàng sau giai đoạn cao điểm tích trữ vàng và tiết kiệm lãi suất cao. Tuy nhiên, khả năng phục hồi mạnh sẽ không dễ xảy ra trong ngắn hạn, bởi môi trường kinh tế toàn cầu còn tiềm ẩn nhiều biến số khó lường từ giá dầu, lạm phát... cho tới căng thẳng địa chính trị và rủi ro chuỗi cung ứng.

Đồng quan điểm, ông Bùi Văn Huy, Phó chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc Khối Nghiên cứu đầu tư Công ty cổ phần FIDT cho rằng, NIM của ngành ngân hàng vẫn chịu áp lực trong ngắn hạn, đặc biệt là quý II/2026. Nguyên nhân do chi phí vốn thường có "độ trễ" sau giai đoạn lãi suất huy động tăng, trong khi lợi suất tài sản không thể điều chỉnh ngay cùng tốc độ. Các khoản vay trung - dài hạn, khoản vay có lãi suất ưu đãi và áp lực hỗ trợ khách hàng khiến ngân hàng khó đẩy lãi suất cho vay lên quá cao.

Từ phía ngân hàng, ông Lê Thanh Tùng, Thành viên Hội đồng quản trị VietinBank cho biết, bối cảnh kinh tế vĩ mô trong và ngoài nước thời gian gần đây đã khiến mặt bằng lãi suất tăng nhanh và duy trì ở mức cao. Trong kịch bản cơ sở, VietinBank cho rằng, tốc độ tăng lãi suất có thể chậm lại và ổn định dần khi điều kiện thị trường trở nên thuận lợi hơn. Tuy nhiên, nếu cú sốc bên ngoài kéo dài thì áp lực lãi suất có thể tiếp tục kéo dài cả năm 2026.

Trong bối cảnh lãi suất cao, cùng với việc các ngân hàng thương mại có vốn nhà nước chi phối thực hiện chủ trương hỗ trợ doanh nghiệp của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước, VietinBank cũng phải đồng hành với doanh nghiệp, do đó NIM có thể sẽ tiếp tục chịu áp lực và chưa thể phục hồi ngay trong ngắn hạn.

Ứng phó của các Ngân hàng

NIM bình quân quý I/2026 của 27 ngân hàng trên thị trường chứng khoán là 2,87%.

Trong bối cảnh lãi suất huy động ở mức cao, trong khi lãi suất cho vay phải kiểm soát để hỗ trợ nền kinh tế, nhiều ngân hàng cho biết sẽ tái cơ cấu danh mục tín dụng, tập trung vào các khoản vay có hiệu quả cao, qua đó cải thiện NIM từ hoạt động cho vay.

Ông Phạm Như Ánh, Tổng giám đốc MB chia sẻ, việc gia tăng tổng tài sản và quy mô tín dụng chính là chiến lược nhanh nhất để tăng tổng lợi nhuận trong bối cảnh NIM dự báo tiếp tục thu hẹp. Song song với đó, MB sẽ tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số, quản trị trên các nền tảng để đảm bảo được chi phí vận hành ở mức thấp. Năm nay, MB đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế tăng từ 15 - 20%, đạt khoảng 39.400 - 39.500 tỷ đồng, bất chấp chi phí vốn dự kiến tăng nhẹ 0,15 - 0,2% do áp lực cạnh tranh gia tăng.

Ông Ánh cũng kỳ vọng, NIM của Ngân hàng sẽ dần cải thiện từ nửa cuối năm 2026 nhờ lãi suất đầu vào giảm và thanh khoản hệ thống ổn định hơn.

Trong khi đó, ông Đặng Khắc Vỹ, Chủ tịch Hội đồng quản trị VIB chia sẻ, mặt bằng lãi suất huy động cao, trong khi lãi suất cho vay bán lẻ lại rất thấp đã gây áp lực trực tiếp lên NIM. Để bù đắp sự sụt giảm, VIB đã đẩy mạnh thu nhập từ phí dịch vụ (tăng trưởng đều đặn 15 - 25%).

Lãnh đạo OCB cũng cho biết, sẽ đẩy mạnh cho vay các sản phẩm có lợi suất cao đi kèm rủi ro có thể chấp nhận, nhờ đó cải thiện NIM cũng như quy mô lợi nhuận.

Tổng giám đốc VPBank Nguyễn Đức Vinh dự báo, mặt bằng lãi suất huy động dự báo hạ dần độ cao trong thời gian tới sẽ giảm bớt áp lực chi phí vốn cho Ngân hàng. Trong quý I/2026, NIM trung bình của ngân hàng mẹ VPBank đạt 4,53 - 4,6% và dự kiến NIM cả năm 2026 sẽ tiếp tục duy trì ổn định quanh mức 4,4%. Dù chịu áp lực cạnh tranh, đây là mức NIM cao hàng đầu trong nhóm ngân hàng thương mại nhờ vào chiến lược tối ưu hóa danh mục sản phẩm và cơ cấu cho vay đa dạng của VPBank.

Với VietinBank, đại diện ngân hàng này cho biết, đã và đang triển khai đồng bộ nhiều giải pháp để giảm thiểu tác động từ việc suy giảm NIM như tiếp tục tối ưu cơ cấu nguồn vốn, cải thiện chất lượng nguồn vốn, điều chỉnh cơ cấu tín dụng theo hướng ưu tiên các phân khúc có biên lợi nhuận cao và hiệu quả tốt hơn.

“Chúng tôi thúc đẩy các nguồn thu nhập ngoài lãi nhằm giảm mức độ phụ thuộc vào NIM trong việc duy trì tăng trưởng lợi nhuận. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng triển khai mạnh mẽ các hoạt động chuyển đổi số và tăng cường đổi mới quản trị trên các mặt hoạt động để nâng cao năng lực cạnh tranh, năng suất lao động, từ đó giúp tăng trưởng doanh thu và tiết giảm chi phí”, ông Lê Thanh Tùng cho hay.

Nhận định về xu hướng NIM thời gian tới, chuyên gia Bùi Văn Huy cho rằng, NIM có thể cải thiện trong nửa cuối năm 2026 nếu thanh khoản hệ thống ngân hàng bớt căng thẳng và tình hình huy động vốn tích cực hơn. Tuy nhiên, mức độ cải thiện NIM sẽ phân hóa mạnh giữa các ngân hàng. Trong đó, các ngân hàng có tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn (CASA) cao, tệp khách hàng giao dịch lớn, tỷ lệ cho vay ngắn hạn cao và chất lượng tài sản tốt sẽ bảo vệ NIM tốt hơn. Ngược lại, các ngân hàng có chi phí vốn và tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) cao, trong khi tỷ lệ bao phủ nợ xấu thấp hoặc danh mục cho vay nhạy cảm với bất động sản và tiêu dùng sẽ chịu áp lực lâu hơn.

Bảo Anh

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục