Các hình thức lừa đảo trực tuyến ngày càng đa dạng, tinh vi
Một cú quét QR, 14 triệu đồng biến mất
Ngày 18/8/2026, chị Phạm Thị Thu Hiền, trú tại Long Biên (Hà Nội), nhận được cuộc gọi từ một người tự xưng là cán bộ hành chính, hướng dẫn làm hồ sơ đăng ký nhận trợ cấp dành cho phụ nữ sinh 2 con trước 35 tuổi.
Sau khi tạo được lòng tin, đối tượng hướng dẫn chị truy cập một website có giao diện và nội dung dễ khiến người dùng nhầm với cổng dịch vụ trực tuyến chính thức. Trong quá trình thao tác, chị Hiền được yêu cầu quét mã QR bằng ứng dụng ngân hàng để hoàn tất thủ tục. Chỉ ít phút sau, tài khoản của chị bị trừ 14 triệu đồng. Qua xác minh, website mà khách hàng truy cập là trang giả mạo do các đối tượng lừa đảo tạo lập nhằm chiếm đoạt tài sản.
Sau khi tiếp nhận hồ sơ, phối hợp với các bên liên quan và chuyên gia công nghệ để xác minh vụ việc, đánh giá nguyên nhân và phạm vi tổn thất, Bảo hiểm BIDV (BIC) đã chi trả 14 triệu đồng cho khách hàng, tương đương 100% số tiền bị mất. Trường hợp này đặt ra câu hỏi, khi các giao dịch tài chính ngày càng chuyển lên môi trường số, tiền bị lừa chuyển đi có thể được bảo hiểm trong những trường hợp nào?
Từ cuộc gọi giả danh công an, cán bộ thuế, bảo hiểm xã hội... đến website ngân hàng giả, mã QR hoặc ứng dụng được cài đặt theo hướng dẫn của kẻ gian, các kịch bản lừa đảo đang ngày càng đa dạng. Các rủi ro giả danh cơ quan chức năng, cơ quan tuyển dụng, lừa đảo mua bán trực tuyến, đầu tư hay chiếm quyền thiết bị… đều có thể dẫn tới tổn thất tài chính. Nhưng một điểm cần lưu ý: Có tổn thất do lừa đảo không đồng nghĩa có quyền được bảo hiểm.
Cùng là bảo hiểm scam, nhưng quyền lợi khác nhau
Tại Việt Nam, một số doanh nghiệp bảo hiểm đang cung cấp các sản phẩm liên quan đến giao dịch trực tuyến và rủi ro không gian mạng cá nhân. Tùy từng sản phẩm, phạm vi bảo vệ, có thể bao gồm gian lận giao dịch, đánh cắp danh tính, chiếm đoạt tài khoản hoặc một số tổn thất tài chính phát sinh từ sự cố trên môi trường số.
Nhiều công ty bảo hiểm phi nhân thọ như BIC, Bảo hiểm VietinBank (VBI), Bảo hiểm Quân đội (MIC), Bảo hiểm Sài Gòn - Hà Nội (BSH), Bảo hiểm OPES… đều có các sản phẩm thuộc nhóm bảo hiểm liên quan đến rủi ro số. Một số sản phẩm được phân phối qua ngân hàng và nền tảng tài chính số với mức phí và hạn mức bảo hiểm khác nhau.
Kênh ngân hàng cũng ngày càng được sử dụng để giới thiệu các sản phẩm này. VietinBank, Agribank, LPBank, SeABank… đã triển khai hoặc giới thiệu sản phẩm bảo hiểm tới khách hàng sử dụng dịch vụ giao dịch trực tuyến.
Tuy nhiên, do thị trường còn mới và phạm vi sản phẩm chưa đồng nhất, các công ty bảo hiểm phải cân nhắc rủi ro pháp lý, trách nhiệm tư vấn và khả năng phát sinh tranh chấp khi giải quyết bồi thường.
VBI cho biết đã chi trả 20 triệu đồng cho một khách hàng bị đối tượng giả mạo nhân viên cơ quan thuế gọi điện, hướng dẫn kê khai thông tin thuế cho hợp tác xã nơi người này làm việc, sau đó bị chiếm đoạt hơn 30 triệu đồng.
Như vậy, có thể thấy, tổn thất từ một số hình thức lừa đảo trực tuyến đã được đưa vào phạm vi xem xét bồi thường. Tuy nhiên, không thể từ đó suy ra rằng, mọi khoản tiền bị mất vì scam (gian lận/lừa đảo) đều được đơn vị bảo hiểm hoàn trả.
Các doanh nghiệp bảo hiểm cho biết, khác với nhiều rủi ro truyền thống, trong không ít vụ lừa đảo trực tuyến, chính nạn nhân là người thực hiện giao dịch: Mở ứng dụng, nhập thông tin, xác nhận hoặc quét mã QR.
Về mặt kỹ thuật, giao dịch có thể được ngân hàng ghi nhận là giao dịch hợp lệ. Nhưng về bản chất, người thực hiện có thể đã bị kẻ gian thao túng hoặc cung cấp thông tin sai lệch. Đây là một trong những điểm khiến việc xác định trách nhiệm bảo hiểm trở nên phức tạp.
Một sản phẩm có thể bảo hiểm một số dạng gian lận hoặc sự cố an ninh mạng, nhưng không đồng nghĩa mọi khoản tiền khách hàng tự chuyển cho kẻ gian đều được bồi thường. Việc chi trả phụ thuộc vào phạm vi bảo hiểm, điều kiện, hạn mức, các trường hợp loại trừ và hồ sơ chứng minh tổn thất theo từng hợp đồng.
Đặc biệt, cần phân biệt giữa bảo hiểm rủi ro không gian mạng và bảo hiểm tổn thất tiền do lừa đảo trực tuyến. Hai khái niệm này có phạm vi bảo vệ khác nhau tùy sản phẩm. Vì vậy, với những gói có mức phí thấp, điều người mua cần quan tâm nhất là mua được quyền lợi gì, hơn là số tiền phải trả đơn thuần.
Về vấn đề này, luật sư Phạm Thị Giang - Công ty Luật Phước và Cộng sự cho biết, việc khách hàng tự bấm vào đường link, quét QR hay nhập mã OTP… không đồng nghĩa với “đây hoàn toàn là một giao dịch do khách hàng tự thực hiện”, nên doanh nghiệp bảo hiểm có lý do để không chịu trách nhiệm. Cần xem xét nguyên nhân dẫn đến giao dịch: Khách hàng có thực hiện dưới tác động của hành vi giả mạo, lừa dối hay thao túng của đối tượng lừa đảo hay không. Tuy nhiên, trong quan hệ bảo hiểm, yếu tố quyết định vẫn là phạm vi bảo hiểm và các điều khoản loại trừ của từng sản phẩm bảo hiểm.
Khi xảy ra tranh chấp, doanh nghiệp bảo hiểm và cơ quan giải quyết tranh chấp sẽ phải xem xét bản chất của hành vi gian lận, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi đó và mức độ thiệt hại, cũng như mức độ lỗi của khách hàng. Đặc biệt, cần xác định hợp đồng bảo hiểm có bảo vệ đối với trường hợp khách hàng bị lừa để tự thực hiện giao dịch, hay loại trừ trách nhiệm khi khách hàng tự cung cấp thông tin bảo mật, mã OTP hoặc xác thực giao dịch. Vì vậy, không thể chỉ dựa vào việc ai bấm nút chuyển tiền để kết luận có được bồi thường hay không.
“Về mặt thực tiễn, khách hàng không nên mặc định rằng, cứ mua bảo hiểm rủi ro số là mọi khoản tiền bị mất do lừa đảo sẽ được bồi thường. Trước khi tham gia bảo hiểm, cần đọc kỹ phạm vi bảo hiểm và các điều khoản loại trừ liên quan đến việc cung cấp mã OTP, thông tin bảo mật hoặc tự xác thực giao dịch. Khi xảy ra sự cố, khách hàng cần nhanh chóng lưu giữ chứng cứ, thông báo cho ngân hàng và doanh nghiệp bảo hiểm để bảo vệ quyền lợi của mình”, bà Giang nói.
Bài toán khó: Dữ liệu
Theo một chuyên gia bảo mật, các dịch vụ bảo hiểm an ninh mạng hiện còn loay hoay với bài toán “con gà và quả trứng”.
“Mức bồi thường bảo hiểm an ninh mạng chưa cao vì bên cung cấp không thể chắc chắn bảo đảm an toàn cho tài khoản người dùng, trong khi tấn công mạng diễn ra ngày càng tinh vi. Người dùng thấy mức bồi thường không cao nên chưa mặn mà mua bảo hiểm, trong khi doanh nghiệp bán bảo hiểm chưa có doanh thu lớn nên cũng khó mạnh tay chi trả quyền lợi”, chuyên gia này nói, đồng thời chia sẻ thêm, một trong những khó khăn nằm ở việc đánh giá rủi ro.
Với các loại tài sản truyền thống, doanh nghiệp bảo hiểm có thể dựa vào giá trị tài sản và dữ liệu tổn thất lịch sử để xây dựng sản phẩm. Trong môi trường số, rủi ro phụ thuộc vào phương thức tấn công, loại tài khoản, hành vi của người dùng và sự thay đổi liên tục của các kịch bản lừa đảo. Do đó, doanh nghiệp bảo hiểm cần dữ liệu về loại hình lừa đảo, tần suất xảy ra, mức độ tổn thất và các yếu tố làm gia tăng nguy cơ để có cơ sở đánh giá và định phí.
Luật sư Phạm Thị Giang cũng cho biết, mua bảo hiểm an ninh mạng không đồng nghĩa tài khoản ngân hàng, chứng khoán hay ví điện tử của người dùng an toàn hơn, nên vẫn cần sự đầu tư mạnh mẽ về an ninh mạng của tổ chức ngân hàng, chứng khoán, ví điện tử, cũng như việc nâng cao ý thức của người dùng.
Bảo hiểm là một cơ chế tài chính để xử lý tổn thất trong trường hợp sự cố thuộc phạm vi được bảo hiểm. Việc phòng ngừa và phát hiện giao dịch bất thường phụ thuộc vào hệ thống của các tổ chức cung cấp dịch vụ và hành vi của khách hàng. Khi các hình thức lừa đảo trực tuyến ngày càng đa dạng, tinh vi, khả năng xác định đúng phạm vi rủi ro và định giá tổn thất là bài toán quan trọng doanh nghiệp bảo hiểm phải xử lý.
Năm tình huống mất tiền vì scam chưa chắc được bảo hiểm
1. Chuyển tiền cho kẻ lừa đảo: Tự thực hiện giao dịch không đồng nghĩa mặc nhiên được bồi thường, mà còn tùy thuộc phạm vi và điều kiện hợp đồng.
2. Cung cấp OTP, mật khẩu: Có thể ảnh hưởng quyền lợi nếu hợp đồng quy định nghĩa vụ bảo mật hoặc loại trừ hành vi này.
3. Bấm link, cài app giả: Chỉ được xem xét nếu sản phẩm có bảo vệ các rủi ro như phishing (tấn công giả mạo), đánh cắp danh tính, chiếm quyền truy cập hoặc tổn thất sau giao dịch giả mạo.
4. Không báo sự cố kịp thời: Việc chậm thông báo ngân hàng hoặc doanh nghiệp bảo hiểm có thể ảnh hưởng quá trình giải quyết bồi thường.
5. Mất tiền vượt hạn mức: Bồi thường tối đa theo hạn mức hợp đồng. Chẳng hạn, khách hàng bị lừa đảo 100 triệu đồng, nhưng hạn mức bồi thường là 20 triệu đồng, thì phần chênh lệch 80 triệu đồng là tổn thất của khách hàng.
(Tổng hợp từ thông tin do các doanh nghiệp bảo hiểm đang triển khai sản phẩm bảo hiểm an ninh mạng công bố)