Bảo hiểm hạ tầng: Cơ hội lớn từ làn sóng đầu tư công, thách thức không nhỏ về năng lực và dữ liệu

(ĐTCK) Nghị định 220/2026/NĐ-CP mở ra một dư địa tăng trưởng đáng kể cho ngành bảo hiểm kỹ thuật, nhưng đi cùng với đó là những bài toán khó về năng lực tài chính, dữ liệu rủi ro và khả năng thu xếp tái bảo hiểm quốc tế mà doanh nghiệp trong nước phải giải quyết.
Một công trình bị bão tàn phá. Ảnh minh họa

Cơ hội từ những dự án hàng tỷ USD

Tại tọa đàm "Quản trị rủi ro các dự án hạ tầng trong kỷ nguyên đầu tư công" do Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam phối hợp tổ chức sáng 16/9, ông Lê Hoài Nam, Tổng giám đốc CTCP Tái bảo hiểm Alpha (Alphare), cho biết các dự án hạ tầng hiện nay có quy mô rất lớn, từ hàng trăm triệu đến hàng tỷ USD. Điển hình như dự án đường sắt Lào Cai - Hải Phòng có giá trị hàng trăm triệu USD, còn dự án TP.HCM - Cần Thơ mà ông tham gia thu xếp có giá trị khoảng 1 tỷ USD. Quy mô vốn đầu tư công tăng mạnh cũng đồng nghĩa với nhu cầu bảo hiểm công trình, bảo hiểm lắp đặt và bảo hiểm vận hành tăng theo.

Theo bà Bùi Thị Thanh Xuân, Phó tổng giám đốc VBI, doanh nghiệp bảo hiểm hiện xử lý hàng trăm hồ sơ tổn thất công trình mỗi năm, trong đó, ba nhóm rủi ro được chủ đầu tư lo ngại nhất là thiên tai cực đoan, rủi ro kỹ thuật thi công (đặc biệt với công trình ngầm) và trách nhiệm với bên thứ ba khi thi công trong khu vực đông dân cư.

Một điểm được các chuyên gia nhấn mạnh là câu chuyện công trình ngầm - lĩnh vực đang bùng nổ tại các đô thị lớn với các dự án metro Hà Nội, TP.HCM. Theo bà Xuân, phí bảo hiểm công trình ngầm thường cao hơn công trình nổi do tính bất định về địa chất, chi phí xử lý sự cố lớn hơn và nguy cơ sụt lún trên diện rộng.

Trong khi đó, ông Nam cho rằng giá bảo hiểm công trình ngầm có thể gấp đôi công trình trên mặt đất. Dẫn chứng cụ thể là vụ đào đường Metro tại Đức từng làm sập một tòa nhà thư viện có giá trị khoảng 600 triệu USD. Đây chính là mảng dịch vụ có phí bảo hiểm cao, mở ra cơ hội doanh thu lớn cho những doanh nghiệp có năng lực định giá và thẩm định kỹ thuật tốt.

Đánh giá thêm về vấn đề bảo hiểm trong đầu tư xây dựng, theo ông Nguyễn Phong Cầm, Phó Tổng thư ký Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam, Nghị định 220/2026/NĐ-CP vừa được ban hành cũng cho phép doanh nghiệp bảo hiểm điều chỉnh phí tăng hoặc giảm tối đa 25% dựa trên mức độ rủi ro thực tế của công trình.

Riêng với quy định không được giảm phí ở khu vực có nguy cơ thiên tai cao, ông Cầm cho rằng đây là bước đi cần thiết để chuyển trọng tâm cạnh tranh từ việc giảm phí sang chất lượng đánh giá rủi ro, năng lực quản trị và khả năng cung cấp giải pháp bảo hiểm phù hợp - hướng đi có lợi cho những doanh nghiệp đầu tư sớm vào dữ liệu và mô hình hóa rủi ro.

Bên cạnh đó, nhu cầu bảo hiểm không chỉ dừng ở giai đoạn xây dựng. Ông Nam cho rằng các dự án sử dụng vốn vay từ tổ chức tài chính quốc tế như IFC, ADB thường yêu cầu chủ đầu tư mua bảo hiểm cho cả giai đoạn vận hành, thậm chí bảo hiểm gián đoạn kinh doanh để bảo vệ nguồn thu khi công trình phải dừng hoạt động. Đây là những sản phẩm bảo hiểm mà thị trường Việt Nam còn khai thác chưa nhiều, đặc biệt với các công trình hạ tầng trước đây thường bỏ qua bảo hiểm vận hành như đường, cầu.

Thách thức: Năng lực tài chính, tái bảo hiểm và dữ liệu

Song hành với cơ hội là những thách thức mang tính cơ cấu. Ông Nam khẳng định với quy mô dự án lên tới hàng tỷ USD, năng lực tài chính của cả Nhà nước, doanh nghiệp bảo hiểm trong nước và cả các nhà tái bảo hiểm trong nước cộng lại vẫn không đủ để gánh toàn bộ rủi ro. Điều này buộc doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam phải phụ thuộc vào thị trường tái bảo hiểm quốc tế, và khả năng thu xếp được tái bảo hiểm với rating tốt trở thành yếu tố sống còn khi ký đơn cho các dự án lớn.

Ông Nam nhấn mạnh thêm, Việt Nam là một trong những thị trường tiên phong tại Đông Nam Á về số lượng doanh nghiệp có xếp hạng tín nhiệm quốc tế. Nhưng với những dự án đặc biệt lớn, một hoặc hai doanh nghiệp bảo hiểm không thể tự gánh toàn bộ trách nhiệm mà cần nhiều nhà tái bảo hiểm cùng tham gia phân tán rủi ro - điều mà các ban quản lý dự án cần đặc biệt lưu tâm khi thẩm định năng lực đối tác.

Thách thức thứ hai là việc thiếu cơ sở dữ liệu thống nhất về vùng rủi ro thiên tai để định phí sát với thực tế - một yêu cầu mới của Nghị định 220 khi quy định không được giảm phí tại khu vực có nguy cơ cao.

Ông Cầm cho rằng Việt Nam cần xây dựng đồng thời bốn loại dữ liệu: dữ liệu rủi ro thiên tai thống nhất, dữ liệu tổn thất lịch sử, dữ liệu về đặc điểm - chất lượng công trình, và cơ chế chia sẻ dữ liệu giữa cơ quan nhà nước với thị trường bảo hiểm. Thiếu những nền tảng này, doanh nghiệp bảo hiểm khó đánh giá chính xác rủi ro của từng công trình cụ thể.

Thách thức thứ ba nằm ở sự phức tạp kỹ thuật của các công trình hạ tầng hiện đại, đặc biệt công trình ngầm áp dụng công nghệ mới. Theo ông Nam, việc khảo sát địa chất tại một vài vị trí không thể phản ánh hết rủi ro dọc theo một công trình có chiều dài lớn, khiến việc định lượng chi phí bảo hiểm trở nên khó khăn hơn nhiều so với công trình trên mặt đất.

Các chuyên gia đồng tình rằng vai trò của doanh nghiệp bảo hiểm tại Việt Nam vẫn chủ yếu bắt đầu ở giai đoạn chuẩn bị xây dựng, chưa tham gia sâu và có hệ thống từ giai đoạn thiết kế như ở một số thị trường phát triển. Nếu chuyển được sang mô hình đồng hành từ đầu, bảo hiểm sẽ không chỉ là công cụ chuyển giao rủi ro mà trở thành một bộ phận thực sự của quản trị rủi ro dự án - đây cũng chính là hướng đi được đánh giá là tất yếu để ngành bảo hiểm khai thác tối đa dư địa tăng trưởng từ làn sóng đầu tư công hạ tầng sắp tới.

N.Lan

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục