Xuất khẩu thủy sản: Giữ vững thị phần Mỹ, mở rộng các thị trường lớn khác

(ĐTCK) Trong 8 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu thủy sản mang về 8 tỷ USD, tăng 11,8% so với cùng kỳ, đạt 67% so với mục tiêu 12 tỷ USD của cả năm.

Về thị trường xuất khẩu, Trung Quốc - Hồng Kông đang nổi lên như một trong những động lực quan trọng nhất. Trong 8 tháng, xuất khẩu sang thị trường này đạt 2,03 tỷ USD, tăng 33,4%, chiếm 25,35% tổng kim ngạch.

Đà tăng tại Trung Quốc - Hồng Kông được hỗ trợ bởi nhiều nhóm sản phẩm, trong đó có tôm, cá tra, cua ghẹ và cá biển. Với mức tăng trưởng này, thị trường đã đóng góp khoảng 508,61 triệu USD, tương đương 60,17% phần tăng kim ngạch của toàn ngành.

Trong khi đó, thị trường chủ lực là Mỹ đang ghi nhận đà giảm. Xuất khẩu thủy sản sang Mỹ tháng 8 giảm 11,4%, xuống 167,74 triệu USD; lũy kế 8 tháng đạt 1,24 tỷ USD, gần như đi ngang. Tại thị trường EU cũng giảm 1,6%, còn 749,9 triệu USD. Trong khi đó, Nhật Bản tăng 2% lên 1,11 tỷ USD và Hàn Quốc tăng 4,9%, đạt 566,3 triệu USD.

Ông Nguyễn Hoài Nam, Tổng thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) cho biết, xuất khẩu sang Mỹ giảm mạnh trong tháng 8/2026, trong khi Trung Quốc, ASEAN và nhiều thị trường châu Á tiếp tục tăng. Bài toán của thủy sản Việt Nam lúc này không chỉ là giữ thị phần tại thị trường chiến lược này mà phải đồng thời xây thêm các trụ tăng trưởng đủ lớn để giảm rủi ro.

Ngành thủy sản Việt Nam đang bước vào một giai đoạn mà năng lực cạnh tranh không còn chỉ được đo bằng giá thành hay sản lượng. Trong một thị trường quốc tế ngày càng dày đặc thuế, phòng vệ thương mại và các yêu cầu kỹ thuật, lợi thế sẽ thuộc về những ngành có thể vừa giữ khách hàng, vừa phản ứng nhanh với chính sách và phân bổ lại thị trường khi cần thiết.

Hiện có khoảng 1.500 doanh nghiệp tham gia xuất khẩu thủy sản, trong đó khoảng 1.000 - 1.100 doanh nghiệp có nhà máy chế biến. Phần lớn năng lực chế biến vẫn thuộc doanh nghiệp trong nước và gắn trực tiếp với nguồn nguyên liệu nội địa. Đây là một khác biệt quan trọng. Trong khi một số một số nước xuất khẩu cạnh tranh có lợi thế lớn hơn về giá thành nguyên liệu, Việt Nam lại có lợi thế ở khả năng chế biến sâu, đa dạng hóa sản phẩm và tạo giá trị gia tăng.

Từ tôm tempura, sản phẩm tẩm bột, chế biến sẵn tới nhiều dòng sản phẩm tiện lợi, doanh nghiệp Việt Nam đã xây dựng được một năng lực chế biến mà không phải quốc gia sản xuất thủy sản nào cũng có. Đây cũng là lý do Việt Nam vẫn có thể cạnh tranh với Ấn Độ hay Ecuador dù giá thành sản xuất tôm trong nhiều thời điểm cao hơn.

Lợi thế của thủy sản Việt Nam ngày càng nằm ở giá trị tạo ra sau khâu nguyên liệu.

Theo Tổng Thư ký VASEP, xuất khẩu sang Mỹ giảm tỷ trọng, nhưng đây vẫn là thị trường phải giữ. Trước đây, Mỹ thường chiếm khoảng 18-20% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam. Thời gian gần đây, tỷ trọng này giảm xuống khoảng 15,5-17%.

Đến năm 2026, xu hướng giảm thể hiện rõ hơn. Riêng tháng 8, xuất khẩu sang Mỹ giảm mạnh, trong đó nhiều mặt hàng chủ lực như tôm, cá tra và cá ngừ đều đi xuống đáng kể. Trong khi đó, Trung Quốc tiếp tục tăng mạnh và ASEAN duy trì tốc độ tăng trưởng tích cực.

Điều này không có nghĩa Mỹ đã mất vai trò chiến lược. Đây vẫn là một trong những thị trường giàu có nhất, có khả năng hấp thụ sản phẩm giá trị cao và đặc biệt phù hợp với thế mạnh chế biến của Việt Nam.

Rủi ro lớn nhất ở Mỹ không còn chỉ là thuế, mà thách thức hiện nay ngày càng mang tính hệ thống. Doanh nghiệp không chỉ đối mặt với thuế nhập khẩu, mà còn với chống bán phá giá, chống trợ cấp, MMPA (Luật bảo vệ động vật có vú ở biển), yêu cầu truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn kỹ thuật và nguy cơ xuất hiện thêm các biện pháp hạn chế thương mại.

Doanh nghiệp cần nhiều hơn những thông tin “sau khi chính sách đã ban hành”. Điều cần thiết là một hệ thống cảnh báo sớm để nhận diện rủi ro ngay từ khi nó bắt đầu hình thành.

Ông Nguyễn Hoài Nam nhấn mạnh cần khai thác tốt hơn dư địa tại các thị trường lớn. Bên cạnh củng cố các thị trường lớn, ngành thủy sản còn nhiều dư địa tại những thị trường khác như Nhật Bản, Hàn Quốc, ASEAN, Trung Quốc - Hong Kong và EU đều là những khu vực có quy mô tiêu thụ lớn và có nhu cầu phù hợp với nhiều nhóm sản phẩm của Việt Nam.

Trong đó, Nhật Bản phù hợp với các sản phẩm chế biến sâu, tiện lợi và giá trị gia tăng. Hàn Quốc là thị trường mà thủy sản Việt Nam đã có vị trí đáng kể và còn nhiều phân khúc có khả năng mở rộng. ASEAN có lợi thế về khoảng cách địa lý, logistics và tốc độ phát triển của thị trường tiêu dùng. Trung Quốc - Hong Kong có dung lượng tiêu thụ rất lớn và cơ cấu nhu cầu đa dạng.

EU tiếp tục là thị trường giá trị cao, với lợi thế quan trọng từ EVFTA và tiềm năng ở nhiều nhóm sản phẩm nếu doanh nghiệp đáp ứng tốt các yêu cầu về chất lượng, truy xuất và tính bền vững.

Hải Minh

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục