Xử lý nợ xấu: Gỡ khó xử lý tài sản bảo đảm

(ĐTCK) Xử lý nợ xấu theo Nghị quyết 42/2017/QH14 đã đạt được kết quả tích cực, nhưng thực tế vẫn còn tồn tại những khó khăn, vướng mắc, trong đó liên quan đến tài sản bảo đảm, đặc biệt là bất động sản.
Các tổ chức tín dụng rất khó để thực hiện việc thu giữ tài sản bảo đảm là bất động sản. Các tổ chức tín dụng rất khó để thực hiện việc thu giữ tài sản bảo đảm là bất động sản.

Luật sư Trương Thanh Đức, Giám đốc Công ty Luật ANVI, trọng tài viên VIAC đã có cuộc trao đổi với Đầu tư Chứng khoán xung quanh vấn đề này.

Quyền thu giữ tài sản bảo đảm đã được quy định tại Nghị quyết 42, vì sao các tổ chức tín dụng lại khó triển khai trên thực tế, thưa ông?

Điều 7, Nghị quyết 42 quy định: “Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu có quyền thu giữ tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu...”. Bộ Công an cũng đã ban hành Quyết định 9018/QĐ-BCA-A04 ngày 19/11/2019 về quy trình công tác đảm bảo an ninh trật tự quá trình thu giữ tài sản bảo đảm theo Nghị quyết 42.

Tuy nhiên, theo phản ánh của các tổ chức tín dụng, phương thức thu giữ tài sản bảo đảm để xử lý nợ xấu chỉ thành công khi khách hàng hợp tác, hoặc trong một số trường hợp nhất định như khách hàng đã bỏ trốn khỏi địa phương mà tài sản bảo đảm không có tranh chấp, tài sản bảo đảm là đất trống…, còn khi khách hàng không hợp tác bàn giao tài sản bảo đảm, chống đối khi tiến hành thu giữ, thì việc thu giữ thường không đạt được kết quả.

Xử lý nợ xấu: Gỡ khó xử lý tài sản bảo đảm ảnh 1
Luật sư Trương Thanh Đức, Giám đốc Công ty Luật ANVI

Điểm b, Khoản 2, Điều 7, Nghị quyết 42 quy định, điều kiện tổ chức tín dụng có quyền thu giữ tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu là “tại hợp đồng bảo đảm có thỏa thuận về việc bên bảo đảm đồng ý cho tổ chức tín dụng có quyền thu giữ tài sản bảo đảm…”. Vậy nhưng, các hợp đồng bảo đảm được ký kết trước thời điểm Nghị quyết 42 có hiệu lực đều không quy định trực tiếp nội dung này (vì tại thời điểm hợp đồng được ký kết thì Nghị định 163/2006/NĐ-CP không quy định nội dung này). Do vậy, để đủ điều kiện áp dụng quyền thu giữ tài sản bảo đảm theo quy định tại Nghị quyết 42, các tổ chức tín dụng phải đàm phán với bên vay/bên bảo đảm để ký lại hợp đồng bảo đảm có điều khoản thu giữ. Vấn đề là khách hàng thường không hợp tác (không ký lại nội dung điều chỉnh hợp đồng bảo đảm có điều khoản thu giữ), vì vậy, các tổ chức tín dụng rất khó để thực hiện việc thu giữ tài sản bảo đảm.

Lãnh đạo nhiều ngân hàng cho biết, có những cách hiểu về tài sản tranh chấp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng tại nhiều nơi, nhiều cấp khác nhau. Theo ông, nguyên nhân cơ bản của tình trạng này là gì?

Đó là những khó khăn, vướng mắc liên quan đến cơ chế tiếp cận thông tin về tình trạng tài sản bảo đảm. Cụ thể, Khoản 2, Điều 7, Nghị quyết 42 quy định, một trong các điều kiện để thu giữ tài sản bảo đảm là “tài sản bảo đảm không phải là tài sản tranh chấp trong vụ án đã được thụ lý nhưng chưa được giải quyết hoặc đang được giải quyết tại tòa án có thẩm quyền; không đang bị tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; không đang bị kê biên hoặc áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án theo quy định của pháp luật”.

Tuy nhiên, hiện tòa án, cơ quan thi hành án dân sự không có hệ thống dữ liệu cho phép các tổ chức tín dụng trích xuất, tra cứu thông tin tài sản có liên quan đến vụ việc đang được thụ lý giải quyết. Đồng thời, chưa có hướng dẫn về cơ chế xác định sớm hữu hiệu trong quá trình thẩm định để xác định tài sản nào đang tranh chấp, tài sản nào đang phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, dẫn đến cách hiểu về tài sản tranh chấp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng tại nhiều nơi, nhiều cấp khác nhau, gây khó khăn khi áp dụng quy định về thu giữ tài sản theo Nghị quyết 42.

Bên cạnh đó, thực hiện việc thu giữ phát sinh rất nhiều trường hợp trong tài sản bị thu giữ có các tài sản khác của bên bảo đảm hoặc bên thứ ba (như đồ gia dụng, điện tử, quần áo, giường tủ….) mà bên bảo đảm hoặc bên thứ ba không tự nguyện dời đi. Hiện chưa có hướng dẫn cụ thể để xử lý đối với các trường hợp này, dẫn đến tổ chức tín dụng gặp nhiều khó khăn, phát sinh chi phí cho việc xử lý tài sản (thuê nơi trông giữ, hậu quả pháp lý của việc hao mòn, thiệt hại tài sản trong quá trình trông giữ, xử lý tranh chấp...).

Hiệu quả của việc xử lý nợ xấu còn bị ảnh hưởng bởi vướng mắc về thuế thu nhập khi xử lý tài sản bảo đảm?

Điều 12, Nghị quyết 42 quy định: “Số tiền thu được từ xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu, sau khi trừ chi phí bảo quản, thu giữ và chi phí xử lý tài sản bảo đảm được ưu tiên thanh toán cho nghĩa vụ nợ được bảo đảm cho tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu trước khi thực hiện nghĩa vụ thuế, nghĩa vụ khác không có bảo đảm của bên bảo đảm”. Ngày 22/3/2019, Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình cũng đã có ý kiến chỉ đạo tại Thông báo 106/TB-VPCP về các khó khăn, vướng mắc liên quan đến thuế thu nhập cá nhân và án phí dân sự…

Ngày 14/4/2022, cho ý kiến về báo cáo của Chính phủ tổng kết việc thực hiện Nghị quyết 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thống nhất kéo dài thời hạn áp dụng toàn bộ quy định của Nghị quyết đến ngày 31/12/2023.

Tuy nhiên, thời gian vừa qua, các tổ chức tín dụng tiếp tục phản ánh vướng mắc khi triển khai trên thực tế. Các cơ quan thuế nhiều địa phương vẫn yêu cầu bên nhận bảo đảm/bên nhận chuyển nhượng phải đóng thay tiền thuế thu nhập cho bên bảo đảm mới thực hiện các thủ tục liên quan đến việc cấp giấy chứng nhận, sang tên cho người nhận chuyển nhượng. Hay các cơ quan thi hành án sau khi thực hiện thủ tục xử lý tài sản bảo đảm vẫn tiến hành trích thu luôn tiền án phí, tiền thuế thu nhập cá nhân đối với các tài sản bảo đảm bán đấu giá thành công trước khi chuyển tiền về cho các tổ chức tín dụng, mặc dù tài sản bảo đảm sau khi xử lý không đủ trả nợ cho tổ chức tín dụng.

Việc phải nộp các khoản thuế, án phí trước khi thực hiện nghĩa vụ ưu tiên thanh toán cho bên nhận bảo đảm là không phù hợp với quy định tại Nghị quyết 42, làm giảm số tiền thu hồi nợ của tổ chức tín dụng, trong khi số tiền xử lý tài sản bảo đảm không đủ thu hồi nợ cho tổ chức tín dụng, dẫn đến không đảm bảo hiệu quả của việc xử lý nợ xấu. Thực tiễn tại nhiều quốc gia cho thấy, quyền của bên nhận tài sản bảo đảm bao giờ cũng được ưu tiên hơn so với các quyền khác.

Liên quan đến việc xử lý tài sản bảo đảm là dự án bất động sản, các ngân hàng phải tuân thủ rất nhiều quy định của pháp luật, có thể gây thiệt hại cho các tổ chức tín dụng. Về vấn đề này, ông có khuyến nghị gì?

Khoản 2, Điều 10, Nghị quyết 42 quy định: “Bên nhận chuyển nhượng dự án phải đáp ứng điều kiện theo quy định của pháp luật về kinh doanh bất động sản; kế thừa các quyền, nghĩa vụ của chủ đầu tư dự án và tiến hành các thủ tục để tiếp tục thực hiện dự án theo quy định của pháp luật về đầu tư, pháp luật về xây dựng”.

Như vậy, đối với việc xử lý tài sản bảo đảm là dự án bất động sản, ngoài việc tuân thủ theo quy định của pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm, bên nhận chuyển nhượng còn phải tuân thủ theo quy định của pháp luật về kinh doanh bất động sản, đầu tư, xây dựng. Điều này dẫn đến thực trạng là sau khi tổ chức tín dụng đưa tài sản bảo đảm là dự án bất động sản ra bán đấu giá công khai và xác định được người trúng đấu giá, nhưng lại không thực hiện được thủ tục đăng ký cấp giấy chứng nhận đầu tư cho người nhận chuyển nhượng, với lý do là chưa đáp ứng được tiêu chuẩn, năng lực theo quy định.

Tôi cho rằng, để công tác xử lý nợ xấu được triển khai có hiệu quả, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong việc xử lý xấu nói chung và xử lý nợ xấu theo Nghị quyết 42 nói riêng, rất cần sự quan tâm, hỗ trợ của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Cơ quan thi hành án...

Đồng thời, hoàn thiện chính sách xử lý nợ xấu theo hướng quy định rõ ràng, cụ thể, hợp lý, khả thi hơn và hợp lý nhất là nâng lên thành Luật, để bảo đảm việc xử lý kịp thời, có hiệu quả nợ xấu của ngành ngân hàng nói riêng và nền kinh tế nói chung. Trường hợp không kịp ban hành hoặc không ban hành Luật, cần duy trì hiệu lực của Nghị quyết 42.

Hồng Dung thực hiện

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục