Xây dựng bài toán mới cho công trình chống chịu nóng

(ĐTCK) Điều kiện thời tiết ngày càng nắng nóng đang đặt ngành xây dựng trước bài toán vượt ra ngoài tiết kiệm điện: công trình cần bảo vệ sức khỏe người sử dụng, duy trì khả năng vận hành và kiểm soát chi phí trong suốt vòng đời.

Hiện nay, các quy định QCXDVN 09:2005, QCVN 09:2017/BXD đến QCVN 04-3:2026/BXD đã từng bước được cập nhật, song phạm vi áp dụng vẫn chủ yếu tập trung vào một số công trình có điều hòa không khí. Việc mở rộng yêu cầu chống chịu nhiệt cần có lộ trình phù hợp, dựa trên đặc điểm công trình, điều kiện khí hậu và cơ sở dữ liệu kiểm chứng.

Bên cạnh hoàn thiện khung pháp lý, sự cần thiết của hướng dẫn chuyên sâu về tiện nghi nhiệt nhằm bảo vệ sức khỏe người sử dụng, tiết kiệm năng lượng và giảm phát thải carbon cũng là những vấn đề đang rất "nóng". Giải pháp cần kết hợp các biện pháp thụ động như che nắng, thông gió tự nhiên, cách nhiệt mái và tường với việc ứng dụng vật liệu, thiết bị hiệu năng cao phù hợp. Đồng thời, quy chuẩn xây dựng cần cập nhật dữ liệu khí hậu theo các kịch bản biến đổi khí hậu, mở rộng phạm vi đánh giá khả năng chống chịu trước nắng nóng, mưa lớn, ngập lụt và bão; từng bước bổ sung tiêu chí tiện nghi nhiệt, hiệu năng và độ bền vật liệu.

Phát biểu tại hội thảo “Xây dựng công trình chống chịu nắng nóng - Heat Resilience Forum”, bà Joy Gai, Giám đốc khu vực châu Á - Thái Bình Dương của Hội đồng Công trình Xanh Thế giới cho biết, nhiệt độ gia tăng đang tác động đến đời sống con người, hoạt động công nghiệp và các tài sản đầu tư. Nhu cầu làm mát lớn hơn gây sức ép lên hệ thống năng lượng và phát thải khí nhà kính. Bất động sản và hạ tầng, trong đó có các trung tâm dữ liệu phục vụ trí tuệ nhân tạo, cũng phải tính đến rủi ro nhiệt trong quá trình đầu tư và vận hành.

“Công trình được thiết kế cho con người” là thông điệp xuyên suốt được bà nhắc đến. Có thể thấy, hiệu quả chống nóng không chỉ được đo bằng lượng điện tiết kiệm, mà còn cần đánh giá mức độ an toàn, sự thoải mái và trải nghiệm của người sử dụng.

Chống nóng bắt đầu từ lớp vỏ công trình

Khả năng hạn chế nhiệt cần được tính toán ngay từ thiết kế và lựa chọn vật liệu. Bà Joy Gai đề cập việc kết hợp thiết kế thụ động, hệ thống chủ động, thông gió tự nhiên, mảng xanh và vật liệu phản xạ nhiệt để nâng cao hiệu quả công trình.

Thiết kế thụ động là cách tận dụng hướng, hình dạng công trình và các yếu tố tự nhiên để giảm nhu cầu sử dụng thiết bị làm mát. Giải pháp chủ động sử dụng hệ thống kỹ thuật, như điều hòa và thông gió cơ khí, để kiểm soát môi trường trong nhà. Hai hướng này cần bổ trợ cho nhau, thay vì được xem là những phương án thay thế hoàn toàn.

Từ góc độ vật liệu, ông Vũ Văn Dũng, Phó Viện trưởng Viện Vật liệu xây dựng thuộc Bộ Xây dựng, cho biết Việt Nam đã có quy định về sử dụng năng lượng hiệu quả trong công trình từ sớm. Tuy nhiên, phạm vi quy định được đề cập vẫn chủ yếu tập trung vào không gian có điều hòa và công trình diện tích lớn, chưa bao quát mọi loại công trình. Việc mở rộng yêu cầu bắt buộc cần thêm cơ sở dữ liệu, phương pháp tính toán và lộ trình thực hiện.

Ông Dũng lấy ví dụ, chúng ta mới chỉ có quy định cho không gian có điều hòa và diện tích lớn hơn 2.500 m2. Phạm vi này còn khá hẹp. Để hướng tới các quy chuẩn bắt buộc về yêu cầu nhiệt trở cho mọi công trình, chúng ta cần có lộ trình và thời gian, cần hoàn thiện cơ sở dữ liệu và hệ thống tiêu chuẩn - quy chuẩn liên quan đến vấn đề tiết kiệm năng lượng và tăng khả năng chống chịu nhiệt.

“Trong tương lai, Việt Nam rất cần điều này, nhưng mọi bước đi đều phải có lộ trình cụ thể để hoàn thiện”, ông nói.

Tính chi phí cho cả vòng đời dự án

Ngoài việc hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn và quy chuẩn, một vấn đề cực kỳ quan trọng nữa là chi phí đầu tư. Ông Dũng nhấn mạnh: “Chi phí đầu tư có thể chia thành hai giai đoạn: chi phí đầu tư ban đầu và chi phí vận hành công trình”.

Dữ liệu khí hậu là một phần quan trọng của bài toán. Theo ông Dũng, Việt Nam có nhiều vùng khí hậu khác nhau, nên cơ sở dữ liệu, phương pháp tính toán và hướng dẫn kỹ thuật cần phản ánh sự khác biệt này. Một giải pháp phù hợp ở địa phương này không nên được áp dụng nguyên trạng cho địa phương khác nếu chưa được đánh giá.

Bà Joy Gai cũng đặt tài chính và dữ liệu trong mối liên hệ với quá trình chuyển đổi ngành xây dựng. Nguồn vốn cần được định hướng vào các công trình đáp ứng yêu cầu mới, còn dữ liệu giúp đo lường hiệu suất, so sánh hiệu quả và hiểu tác động thực tế lên người sử dụng.

Bà cho rằng, sự lãnh đạo tạo nền tảng cho chiến lược và hành động; công nghệ cung cấp giải pháp; tài chính hỗ trợ triển khai; dữ liệu giúp đánh giá kết quả; còn tư duy và trách nhiệm của con người quyết định tốc độ chuyển đổi.

Tiết kiệm năng lượng phải đi cùng sức khỏe

Yêu cầu chống nóng cần tính đến sự khác biệt giữa các nhóm người sử dụng. Ông Dũng cho rằng hệ thống tiêu chuẩn còn những khoảng trống liên quan đến thời tiết cực đoan, kịch bản biến đổi khí hậu và các không gian không có điều hòa.

Ngoài các quy chuẩn, Việt Nam đã xây dựng các tiêu chuẩn về thông gió và điều hòa không khí. Tiêu chuẩn này quy định khi thiết kế nhiệt độ không gian trong nhà, nhiệt độ không được vượt quá 3 độ C so với nhiệt độ trung bình của tháng nóng nhất trong năm. Tuy nhiên, đây mới chỉ là tiêu chuẩn mang tính tham khảo chứ chưa bắt buộc như quy chuẩn.

"Trong thực tế, các quy định này vẫn còn khoảng trống cần bổ sung trong thời gian tới; ví dụ, chúng ta chưa tính đến các điều kiện thời tiết cực đoan, chưa tính đến các kịch bản biến đổi khí hậu, và chưa áp dụng đầy đủ cho các không gian không có điều hòa. Hơn nữa, việc giao trách nhiệm không chỉ thuộc về Bộ Xây dựng mà cần sự tham gia của các bộ ngành khác như Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế... vì mức chênh lệch nhiệt độ 3 độ C chưa chắc đã phù hợp với mọi điều kiện thời tiết khác nhau hoặc cho các đối tượng dễ bị tổn thương như trẻ em, người già và người bệnh", ông Dũng nói.

Theo ông Dũng, hoàn thiện yêu cầu về tiện nghi nhiệt cần sự phối hợp giữa ngành xây dựng với giáo dục, y tế và các cơ quan liên quan. Việc áp dụng rộng rãi yêu cầu tối thiểu về chống chịu nhiệt vào năm 2030 là khó khả thi nếu các chỉ tiêu, phương pháp thử nghiệm và nền tảng pháp lý chưa được chuẩn bị đầy đủ.

Về đề xuất áp dụng Tiêu chuẩn Chống chịu Nhiệt tối thiểu vào năm 2030, Việt Nam đã có những nền tảng ban đầu từ quy định về vỏ công trình, các chỉ tiêu tiện nghi nhiệt trong TCVN 5687:2024 và định hướng dán nhãn năng lượng vật liệu xây dựng, góp phần bảo vệ sức khỏe, giảm phụ tải điện và tăng tính minh bạch của thị trường. Tuy nhiên, những vấn đề về tính pháp lý, ngưỡng nhiệt an toàn trong điều kiện cực đoan, chi phí và năng lực kiểm định vẫn cần được cân nhắc. Theo nội dung thảo luận, việc áp dụng bắt buộc đồng loạt cho mọi công trình vào năm 2030 sẽ khó khả thi. Do đó, cần xây dựng lộ trình phù hợp, tăng cường phối hợp giữa các bên và xác định rõ trách nhiệm quản lý, cơ chế giải trình.

Một nội dung trọng tâm là vai trò của hệ mặt dựng và thiết kế thụ động trong thích ứng với biến đổi khí hậu. Các giải pháp như kính hiệu năng cao, che nắng, cách nhiệt và tổ chức không gian phù hợp cần được tính toán ngay từ giai đoạn thiết kế, dựa trên cả dữ liệu khí hậu hiện tại và dự báo tương lai.

Chia sẻ kinh nghiệm từ các khách sạn tại Việt Nam, ông Lawrence Mbanu - Giám đốc Quản lý Dự án, Indochina Kajima cho biết, việc tối ưu hệ mặt dựng và che nắng đã giúp giảm công suất điều hòa mỗi phòng từ 3,6 kW xuống 2,2 kW, đồng thời tiết kiệm khoảng 20% tổng điện năng tòa nhà.

Bên cạnh giải pháp công nghệ, các chuyên gia đề xuất đánh giá hiệu quả chống chịu nhiệt thông qua dữ liệu vận hành thực tế, với những chỉ số như nhiệt độ trong nhà, số giờ quá nhiệt, cường độ sử dụng năng lượng và khả năng duy trì điều kiện an toàn khi hệ thống làm mát gặp sự cố.

Ngoài ra, cần có sự phối hợp giữa chủ đầu tư, kiến trúc sư, kỹ sư cơ điện và đội ngũ vận hành để bảo đảm hiệu quả thiết kế. Đồng thời, công trình cần cân bằng giữa khả năng chống nóng, ánh sáng tự nhiên và tầm nhìn, hướng tới không gian tiện nghi, tiết kiệm năng lượng và thích ứng tốt hơn với các điều kiện khí hậu cực đoan.

Qui Ánh

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục