Nghị định gồm 4 chương, 82 điều, quy định về các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân, hình thức và mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, đối tượng và thẩm quyền xử phạt, cũng như việc thi hành các quyết định xử phạt.
Nghị định áp dụng đối với cá nhân, tổ chức Việt Nam và nước ngoài có hành vi vi phạm trong phạm vi lãnh thổ, vùng biển, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa Việt Nam và trên tàu bay, tàu biển mang quốc tịch Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế có quy định khác.
Đối tượng tổ chức bao gồm doanh nghiệp, tổ chức kinh tế - xã hội, doanh nghiệp và tổ chức nước ngoài cung cấp dịch vụ viễn thông, Internet, nội dung số, công nghệ thông tin, an ninh mạng, dịch vụ xuyên biên giới hoặc trực tiếp xử lý dữ liệu cá nhân của công dân Việt Nam; điểm cung cấp dịch vụ viễn thông, trò chơi điện tử công cộng, nhà đăng ký tên miền, chủ quản và đơn vị vận hành hệ thống thông tin cùng các tổ chức khác theo quy định pháp luật. Hộ kinh doanh, hộ gia đình và cộng đồng dân cư vi phạm bị áp dụng mức phạt tiền như đối với cá nhân.
Đối với các hành vi liên quan nhưng chưa được quy định trong Nghị định, việc xử phạt được thực hiện theo nghị định xử phạt trong lĩnh vực quản lý nhà nước chuyên ngành tương ứng. Nếu một hành vi đồng thời thuộc phạm vi của Nghị định này và nghị định khác, cơ quan có thẩm quyền phải xác định đúng bản chất hành vi; ưu tiên áp dụng Nghị định này đối với vi phạm trong lĩnh vực an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân, còn hành vi vi phạm nghĩa vụ chuyên ngành khác thì áp dụng quy định tương ứng.
Về bảo vệ dữ liệu cá nhân, Nghị định xử phạt nhiều nhóm hành vi, từ vi phạm nguyên tắc bảo vệ dữ liệu, sự đồng ý của chủ thể dữ liệu, thu thập, cung cấp, công khai, chuyển giao, xóa và khử nhận dạng dữ liệu đến mua bán trái phép dữ liệu cá nhân, chuyển dữ liệu xuyên biên giới, đánh giá tác động xử lý dữ liệu, thông báo vi phạm và kinh doanh dịch vụ xử lý dữ liệu cá nhân.
Đáng chú ý, hành vi vi phạm nguyên tắc bảo vệ dữ liệu cá nhân có thể bị phạt từ 20 triệu đến 40 triệu đồng, gồm xử lý dữ liệu không đúng phạm vi, mục đích; không bảo đảm tính chính xác; lưu trữ quá thời hạn cần thiết hoặc không chủ động phòng ngừa, phối hợp xử lý vi phạm.
Mức phạt tăng lên từ 40 triệu đến 60 triệu đồng đối với hành vi chống đối, cản trở hoạt động bảo vệ dữ liệu cá nhân hoặc sử dụng dữ liệu cá nhân của người khác để thực hiện hành vi trái pháp luật.
Ngoài tiền phạt, một số trường hợp có thể bị tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm; đồng thời buộc hủy, xóa dữ liệu không đúng quy định, nộp lại khoản thu bất hợp pháp, công khai xin lỗi hoặc chỉnh sửa, cập nhật dữ liệu cá nhân.
Đối với vi phạm về sự đồng ý của chủ thể dữ liệu cá nhân, mức phạt từ 30 triệu đến 50 triệu đồng được áp dụng với các hành vi như xử lý dữ liệu khi chưa có sự đồng ý hợp lệ; ép buộc đồng ý bằng cách gắn điều kiện cung cấp dịch vụ; thiết lập phương thức mặc định đồng ý; không bảo đảm việc đồng ý rõ ràng, có thể kiểm chứng; không cung cấp đầy đủ thông tin về mục đích, loại dữ liệu và quyền của chủ thể; không ghi nhận, lưu trữ bằng chứng về sự đồng ý hoặc không thông báo việc xử lý dữ liệu cá nhân nhạy cảm.
Mức phạt tăng lên 50 triệu đến 70 triệu đồng đối với hành vi cố ý tiếp tục xử lý dữ liệu sau khi chủ thể yêu cầu ngừng, hạn chế xử lý hoặc cơ quan có thẩm quyền yêu cầu; hoặc tự ý coi sự im lặng, không phản hồi của chủ thể dữ liệu là sự đồng ý.
Các hành vi này còn có thể bị tịch thu tang vật, phương tiện; buộc hủy, xóa dữ liệu được thu thập, xử lý không có sự đồng ý hợp lệ và buộc nộp lại khoản thu bất hợp pháp.
Về quản lý nhà nước, Bộ Quốc phòng quản lý an ninh mạng đối với nhiệm vụ quân sự, quốc phòng; Bộ Công an quản lý an ninh mạng đối với các đơn vị quân đội có hoạt động dân sự, kinh tế theo thẩm quyền. Đối với các nội dung giao thoa, hai Bộ thống nhất cơ chế phối hợp.