Từ thông điệp chính trị đến ngôn ngữ chính sách

0:00 / 0:00
0:00
Cơ hội bứt phá của nền kinh tế đang hiện hữu, nhưng Tổng Bí thư Tô Lâm đã cảnh báo: “Nếu để lỡ thời cơ hoặc chậm trễ, sai sót trong giai đoạn bản lề, cái giá phải trả sẽ rất đắt - có thể đánh mất cơ hội của cả dân tộc, tụt hậu xa hơn trong một thế giới biến động nhanh chóng”.
Cốt lõi của mô hình tăng trưởng mới là nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Ảnh: Đ.T Cốt lõi của mô hình tăng trưởng mới là nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Ảnh: Đ.T

Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đặt ra mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên trong giai đoạn 2026-2030. Cùng với đó là xác lập rõ mô hình tăng trưởng mới.

Trong đó, cốt lõi của mô hình tăng trưởng mới là nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nền kinh tế; động lực chính là khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và AI.

Các động lực tăng trưởng truyền thống cần được làm mới, nhưng phải bằng công nghệ. Cùng với đó, hình thành các động lực tăng trưởng mới, các cực tăng trưởng mạnh, các vùng kinh tế trọng điểm, các đô thị và đặc khu kinh tế thế hệ mới ngang tầm khu vực và toàn cầu.

Rõ ràng, tăng trưởng cao hơn là yêu cầu bắt buộc, song để đạt được, cách thức tăng trưởng sẽ phải khác.

Từ bỏ tư duy chạy theo số lượng

Muốn thay đổi cách tăng trưởng, trước hết phải thay đổi tư duy và cách điều hành. Cụ thể, cần bỏ ngay tư duy “chạy theo số lượng”, chuyển sang tư duy và điều hành theo chất lượng. Không thể tiếp tục điều hành theo kiểu “kích cầu - bơm tiền” để có tăng trưởng ngắn hạn, mà phải thay bằng cải cách thực chất, lấy tăng năng suất làm động lực.

Hội nhập cũng phải thay đổi cách tiếp cận. Không còn là hội nhập theo số lượng hiệp định thương mại tự do tham gia, số vốn và số dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đăng ký hay theo kim ngạch xuất khẩu, mà hội nhập để tạo và duy trì không gian phát triển, mở rộng lựa chọn, nâng cao năng lực nội sinh.

Cách đây nhiều năm, yêu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả của nền kinh tế đã được đưa ra. Quyết định 339/2013/QĐ-TTg phê duyệt Đề án Tổng thể tái cơ cấu nền kinh tế giai đoạn 2013-2020 đưa ra khung khổ tư duy rõ ràng là nâng cao năng suất qua khoa học - công nghệ và hiệu quả phân bổ nguồn lực.

Nhưng từ đó đến nay, hệ thống chỉ tiêu trong điều hành kinh tế vẫn là giải ngân bao nhiêu, tốc độ tăng tín dụng, kim ngạch xuất khẩu tăng bao nhiêu…, thay vì các chỉ tiêu đo hiệu quả tín dụng, hiệu quả đầu tư.

Như vậy, để thay đổi được mô hình tăng trưởng, việc cần làm là đổi mới căn bản công tác thống kê, xây dựng hệ thống chỉ tiêu kinh tế - xã hội mới, bổ sung các chỉ tiêu đo lường năng suất, hiệu quả, chất lượng, trình độ công nghệ và năng lực nội sinh của nền kinh tế, gắn với chuyển đổi số.

Đây cũng phải là tiêu chí được sử dụng để điều hành, được đánh giá từng quý để nhìn thấy sự thay đổi.

Ổn định vĩ mô phải đi cùng cải cách môi trường kinh doanh

Ổn định kinh tế vĩ mô là điều kiện tiên quyết, không được xem thường, nhưng có khung tư duy điều hành là kiểm soát lạm phát, ổn định vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng và bảo đảm an sinh xã hội; tuyệt đối không đánh đổi lạm phát lấy tăng trưởng.

Thực tiễn cho thấy, từ năm 2011 đến nay, ổn định kinh tế vĩ mô ngày càng vững chắc: lạm phát được kiểm soát, giá trị đồng nội tệ ổn định, niềm tin vào đồng nội tệ được củng cố, đô la hóa và vàng hóa được đẩy lùi, dự trữ ngoại hối tăng, đầu tư tư nhân tăng cao và đời sống người dân được cải thiện.

Chính sách tài khóa và tiền tệ phải gắn bó, bổ sung cho nhau một cách linh hoạt. Chính sách tiền tệ ưu tiên ổn định giá trị đồng nội tệ và bảo đảm thanh khoản hợp lý; chính sách tài khóa chuyển trọng tâm từ tăng thu để mở rộng chi sang khoan sức dân, hỗ trợ và nuôi dưỡng nguồn thu trung và dài hạn.

Ổn định vĩ mô là điều kiện cần, nhưng chưa đủ. Chỉ khi đi cùng cải cách đột phá về môi trường kinh doanh thì người dân và doanh nghiệp mới thực sự an tâm dốc sức, dốc lực cho đổi mới sáng tạo lâu dài.

Mọi cải cách, nhất là cải cách có tính đột phá không thể dừng lại ở các chủ trương chính trị trong nghị quyết, trong báo cáo tại các hội nghị, mà chúng phải được thấm nhuần, chuyển tải và thực hiện đầy đủ, nhất quán, có tác dụng thực tế, mang lại quyền và lợi ích thiết thực cho người dân và doanh nghiệp.

Việc thực thi phải đúng như Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ đạo, đó là “nói phải đi đối với làm, hoặc nói ít, làm nhiều”, thì dân mới tin, theo và ủng hộ; từ đó, năng lượng tích cực từ cải cách, từ phản ứng của người dân và doanh nghiệp mới quyện vào nhau thành vòng xoáy mở rộng, thúc đẩy phát triển lành mạnh, năng động của xã hội, của nền kinh tế. Còn ngược lại, sẽ cổ xúy cho “bệnh thành tích”, quan liêu, có thể làm sai lệch, méo mó các giá trị xã hội; sẽ xa dân và mất niềm tin của nhân dân.

Cải thiện môi trường kinh doanh cần hai bước. Bước một là thực hiện đầy đủ các mục tiêu đã tuyên bố: bãi bỏ rào cản đầu tư - kinh doanh, cắt giảm ít nhất 30% điều kiện kinh doanh, thủ tục hành chính và chi phí tuân thủ. Cách làm là phải đứng về phía người dân và doanh nghiệp để xác định các rào cản, điều kiện kinh doanh và thủ tục hành chính.

Bước hai là tổ chức nghiên cứu (nhóm nghiên cứu độc lập) thiết kế một hệ thống pháp luật mới đúng với nội dung và tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư, từ đó thực hiện các cải cách chuyển đổi hệ thống pháp luật hiện hành sang hệ thống vừa được thiết kế.

Ổn định kinh tế vĩ mô và môi trường kinh doanh tốt, luôn được cải thiện là giải pháp tốt nhất để huy động nguồn lực của khu vực tư nhân trong nước, thúc đẩy tăng trưởng.

Đột phá thể chế phân bố nguồn lực

Muốn nâng cao hiệu quả tăng trưởng, yêu cầu rất quan trọng là đổi mới căn bản thể chế phân bố nguồn lực, đặc biệt là tín dụng và đất đai.

Về tín dụng, cần chuyển từ cho vay dựa chủ yếu vào tài sản thế chấp, nhất là bất động sản, sang cho vay dựa trên dòng tiền tương lai, hợp đồng đầu ra và chuỗi giá trị. Giảm tập trung tín dụng vào một số khách hàng lớn, tăng tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua các cơ chế công khai, ưu đãi có điều kiện và bảo lãnh tín dụng.

Về đất đai, cần coi đất là tư liệu sản xuất khan hiếm, không phải tài sản đầu cơ. Áp dụng thuế để giảm đầu cơ, đánh thuế lũy tiến đối với bất động sản thứ hai trở lên, đánh thuế cao đối với đất bỏ hoang, chậm đưa vào sử dụng. Giá đất phải được xác định độc lập, không bị dẫn dắt bởi đầu cơ; phân bổ đất không nhằm tối đa hóa thu ngân sách một lần, mà nhằm giao quyền sử dụng cho người tạo ra giá trị cao nhất.

Phải thẳng thắn, các giải pháp cải cách cơ chế phân bố và sử dụng, nâng cao hiệu quả sử dụng đất đã được đưa ra nhiều, nhưng thực hiện chưa rốt ráo. Lần này, chúng ta đã có cam kết chính trị mạnh mẽ, nhất quán, vượt khỏi tư duy nhiệm kỳ; cần thống nhất nhận thức đất là tư liệu sản xuất chủ yếu và khan hiếm; tách mục tiêu tài khóa khỏi mục tiêu quản lý sử dụng đất; không đặt mục tiêu tăng thu ngắn hạn trên mục tiêu hiệu quả dài hạn. Có khung pháp lý rõ ràng, cụ thể, minh bạch, ổn định, khắc phục tình trạng sợ trách nhiệm, không dám làm theo cách thức phân bố và quản lý mới đối với đất đai.

Quan trọng nhất, đây là thời điểm thuận lợi, không thể muộn hơn để thực hiện các kiến nghị trên. Nếu không quay về đúng “quỹ đạo”, thì đất đai không được sử dụng hiệu quả, nền kinh tế không thể tăng trưởng cao, bền vững và đất nước không thể vươn mình.

Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và AI là động lực chính

Cần hiện thực hóa chủ trương “khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và AI là động lực chính của tăng trưởng thông qua sự bứt phá về tăng năng suất”. Để làm được, xác định rõ nội hàm và kênh hành động. Theo đó, khoa học công nghệ là động lực trực tiếp nâng cao năng suất; đổi mới sáng tạo tạo ra sản phẩm, mô hình kinh doanh và chuỗi giá trị mới; chuyển đổi số giúp tái cấu trúc toàn diện nền kinh tế; AI là công nghệ tổng quát, khuếch đại tác động của tất cả các động lực trên.

Các động lực này phải hướng tới nâng cao Năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP), giảm ICOR, thúc đẩy tái cơ cấu ngành và doanh nghiệp, mở rộng không gian tăng trưởng mới. Doanh nghiệp phải trở thành trung tâm của nghiên cứu - phát triển và đổi mới sáng tạo; Nhà nước đóng vai trò đặt bài toán, đặt hàng và mua sản phẩm công nghệ.

Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số được áp dụng theo các nội dung nói trên phải trả lời được các câu hỏi: có nâng cao TFP không; có nâng cao hiệu quả đầu tư, giảm ICOR không; có thúc đẩy tái cơ cấu ngành và doanh nghiệp, mở rộng không gian tăng trưởng mới hay không. Chỉ khi các câu trả lời là có, với cách làm cụ thể, việc thực thi mới thực sự hiệu quả.

Trong quá trình này, phải xác định, AI không thay thế khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, mà khuếch đại các tác động, từ đó nhanh chóng rút ngắn khoảng cách công nghệ của Việt Nam với các nền kinh tế phát triển; rút ngắn trình độ công nghệ so với các công nghệ tiên phong, hàng đầu thế giới.

Không thể chậm trễ hơn

Cơ hội bứt phá đang hiện hữu, nhưng Tổng Bí thư Tô Lâm đã cảnh báo: “Nếu để lỡ thời cơ hoặc chậm trễ, sai sót trong giai đoạn bản lề, cái giá phải trả sẽ rất đắt - có thể đánh mất cơ hội của cả dân tộc, tụt hậu xa hơn trong một thế giới biến động nhanh chóng”.

Để không thể chậm trễ hơn, hệ thống tư duy mới về thể chế và mô hình tăng trưởng phải được cụ thể hóa thành chính sách, thành kênh tác động thực tế đến năng suất, hiệu quả và năng lực cạnh tranh. Khi cải cách hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển một cách thực chất, nhất quán, mở rộng được không gian, kiến tạo được cơ hội phát triển, nâng cao được năng suất và hiệu quả, thì tăng trưởng cao, bền vững và bao trùm sẽ trở thành hiện thực.

TS. Nguyễn Đình Cung
Nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương/Baodautu.vn

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục