Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu rõ, Việt Nam không thu hút đầu tư bằng mọi giá mà phải là một quốc gia có chiến lược, có lựa chọn, có năng lực sàng lọc và đồng hành với các nhà đầu tư tốt để cùng tạo ra các giá trị mới.
Sử dụng nguồn lực quốc tế để tạo dựng năng lực cạnh tranh quốc gia.
Sáng 30/6, phát biểu tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nói, Nghị quyết đã được Bộ Chính trị ban hành trên cơ sở tổng kết 40 năm thực hiện chủ trương mở cửa và thu hút đầu tư nước ngoài của Đảng.
Đây là nghị quyết thể hiện sự thay đổi trong tư duy phát triển, không còn thuần túy mở cửa đón nhận dòng vốn mà đã chủ động lựa chọn và sử dụng nguồn lực quốc tế để tạo dựng năng lực cạnh tranh quốc gia, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh.
Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 qua nhiều lần sửa đổi, hợp nhất và hoàn thiện, Việt Nam đã từng bước hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, mở rộng hội nhập, xây dựng môi trường đầu tư ngày càng thông thoáng, minh bạch và ổn định hơn.
Quá trình đó đã đưa Việt Nam từ nền kinh tế khép kín, thiếu vốn và phụ thuộc nhiều vào viện trợ quốc tế trở thành nền kinh tế có độ mở cao, hội nhập sâu rộng với khu vực và thế giới. Việt Nam từ chỗ thương mại quốc tế chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ vào cuối những năm 1980 đến nay đã trở thành một mắt xích quan trọng trong mạng lưới sản xuất và thương mại toàn cầu.
Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu chiếm hơn 180% GDP, trong đó FDI chiếm khoảng 75%. Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã đóng góp tích cực vào tăng trưởng xuất khẩu, công nghiệp hóa, tạo việc làm, tiếp nhận công nghệ và phương thức quản trị hiện đại.
“Ngày nay, Việt Nam đã ở một vị thế khác. Chúng ta không còn đặt câu hỏi làm thế nào để có thêm vốn nước ngoài nữa, thay vào đó chúng ta phải trả lời câu hỏi hóc búa hơn: làm thế nào sử dụng hiệu quả nguồn lực nước ngoài để nâng cao nội lực, năng lực công nghệ, sức cạnh tranh và tự chủ của nền kinh tế”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước phát biểu.
Nhìn thẳng vào những hạn chế trong hoạt động thu hút FDI, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chỉ rõ, tỷ lệ nội địa hóa còn thấp, liên kết với doanh nghiệp trong nước, chuyển giao công nghệ, nghiên cứu phát triển và đào tạo nhân lực chất lượng cao chưa đạt như kỳ vọng.
Nhiều dự án đầu tư nước ngoài vẫn chủ yếu gia công, lắp ráp, sử dụng nhiều đất đai, lao động phổ thông, năng lượng giá rẻ, tiêu chuẩn môi trường thấp, hoặc dựa nhiều vào ưu đãi, chưa tạo được năng lực mới cho nền kinh tế.
Một số địa phương còn cạnh tranh thu hút đầu tư theo số lượng dự án, dựa trên ưu đãi đất đai, thuế, phí mà chưa chú trọng hiệu quả sử dụng đất, tiết kiệm năng lượng, đóng góp ngân sách, chuyển giao công nghệ, phát triển doanh nghiệp trong nước và bảo đảm môi trường, an ninh kinh tế. Nhiều khu vực vẫn còn là vùng trũng trong thu hút đầu tư nước ngoài (như Đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên, miền núi phía Bắc).
Để khắc phục những hạn chế này, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh, Nghị quyết 10 đặt ra những mục tiêu và yêu cầu cao hơn nhiều: phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phải gắn với nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, năng lực sản xuất, công nghệ và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Đến năm 2030, Việt Nam thuộc nhóm dẫn đầu ASEAN về môi trường đầu tư kinh doanh, năng lực cạnh tranh, đổi mới sáng tạo, chất lượng dịch vụ công và khả năng tiếp nhận các dự án đầu tư nước ngoài chất lượng cao. Đồng thời, đặt ra nhiều chỉ tiêu cụ thể khác.
Để đạt được những mục tiêu cao đó, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nêu rõ yêu cầu phải nhận thức sâu sắc toàn bộ nội dung Nghị quyết để hành động quyết liệt hơn, nhanh hơn và thực chất hơn trong tư duy về đầu tư nước ngoài.
Đó là, phải chủ động tiếp cận, lựa chọn, dẫn dắt và sử dụng hiệu quả các dòng vốn quốc tế để bồi đắp năng lực quốc gia. Phải tính toán hiệu quả thu hút bằng năng suất và chất lượng của vốn, trình độ công nghệ sử dụng, số việc làm chất lượng cao, đào tạo kỹ sư, nhà quản trị Việt Nam, kết nối doanh nghiệp trong nước vào chuỗi cung ứng, tạo thêm giá trị gia tăng, tham gia các hoạt động đổi mới sáng tạo tại Việt Nam.
“Chúng ta không chỉ thu hút đầu tư theo địa giới hành chính mà phải tổ chức theo liên kết cụm ngành, chuỗi giá trị, hệ sinh thái công nghiệp, đổi mới sáng tạo và không gian liên vùng. Chúng ta không cạnh tranh bằng cách hạ thấp tiêu chuẩn hay đánh đổi môi trường, tài nguyên, an sinh và an ninh kinh tế lấy tăng trưởng trước mắt mà phải cạnh tranh bằng chất lượng thể chế, hạ tầng hiện đại, nhân lực chất lượng cao, chi phí tuân thủ thấp, dịch vụ công chuyên nghiệp và môi trường kinh doanh ổn định, có thể dự báo”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước phát biểu.
Quán triệt và tổ chức thực hiện tốt 8 nhiệm vụ trọng tâm
Nhấn mạnh mục tiêu của thu hút đầu tư nước ngoài trong giai đoạn hiện nay là phải biến các nguồn lực đó thành năng lực của nền kinh tế Việt Nam, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị đề nghị các cấp, các ngành, các địa phương tập trung quán triệt và tổ chức thực hiện tốt 8 nhiệm vụ trọng tâm.
Thứ nhất, phải thống nhất nhận thức, đổi mới mạnh mẽ tư duy về đầu tư nước ngoài. Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc dân, cùng hợp tác, cạnh tranh lành mạnh và phát triển với kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và kinh tế hợp tác.
Chúng ta tạo mọi điều kiện thuận lợi để các nhà đầu tư có năng lực, công nghệ, trách nhiệm và cam kết lâu dài đầu tư, kinh doanh thành công tại Việt Nam. Đồng thời, phải sàng lọc chặt chẽ, không tiếp nhận các dự án công nghệ lạc hậu, tiêu hao nhiều năng lượng, sử dụng đất kém hiệu quả, có nguy cơ gây ô nhiễm, chuyển giá, trốn thuế, lẩn tránh xuất xứ hoặc gây rủi ro đối với quốc phòng, an ninh, dữ liệu và hạ tầng trọng yếu.
Thứ hai, hoàn thiện thể chế theo hướng ổn định, minh bạch, có khả năng dự báo và phù hợp với thông lệ quốc tế. Các bộ, ngành phải rà soát, đồng bộ hóa các quy định liên quan đến đầu tư, kinh doanh và thị trường. Kiên quyết xử lý tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn, thủ tục rườm rà và cách hiểu không thống nhất giữa các cơ quan, địa phương.
Không để nhà đầu tư phải đi qua quá nhiều cửa, mất quá nhiều thời gian và chi phí để triển khai một dự án hợp pháp. Các cơ quan nhà nước phải chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang kiến tạo phát triển, quản trị hiện đại và phục vụ doanh nghiệp. Không chỉ giải quyết thủ tục nhanh hơn, mà phải giúp nhà đầu tư dự báo được chính sách, nhìn rõ triển vọng và yên tâm đầu tư dài hạn.
Thứ ba, bỏ tư duy ưu đãi đầu vào, thay bằng hỗ trợ dựa trên kết quả đầu ra, gắn với mức độ thực hiện cam kết. Những dự án có công nghệ tiên tiến, đầu tư nghiên cứu phát triển, đóng góp cho chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, đào tạo lao động Việt Nam, sử dụng nhà cung ứng trong nước, chuyển giao công nghệ, tiết kiệm đất đai, năng lượng và giảm phát thải phải được hỗ trợ tương xứng.
Ngược lại, dự án chậm triển khai, sử dụng đất lãng phí, gây ô nhiễm, chuyển giá, vi phạm pháp luật hoặc không thực hiện đúng cam kết phải bị xử lý nghiêm. Tùy theo mức độ vi phạm, nếu cần thiết thì thu hồi ưu đãi, thu hồi đất hoặc chấm dứt dự án.
Thứ tư, phát triển mạnh hệ sinh thái công nghiệp trong nước và liên kết thực chất giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp Việt Nam. Đây là nhiệm vụ trung tâm của Nghị quyết. Các bộ, ngành, địa phương không chỉ mời gọi các tập đoàn nước ngoài mà phải đồng thời nâng cao năng lực doanh nghiệp Việt Nam để trở thành nhà cung ứng của họ.
Cần xây dựng cơ sở dữ liệu về nhà cung ứng, tăng cường kết nối FDI với doanh nghiệp trong nước, hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam nâng cấp quản trị, tiêu chuẩn kỹ thuật, năng lực tài chính, truy xuất nguồn gốc, sở hữu trí tuệ và chuyển đổi số. Doanh nghiệp FDI cần công bố nhu cầu mua sắm, tiêu chuẩn kỹ thuật, lộ trình nội địa hóa và cơ hội hợp tác.
Các tập đoàn lớn đầu tư tại Việt Nam phải đồng hành phát triển công nghiệp hỗ trợ, đào tạo nhà cung ứng, chia sẻ tiêu chuẩn, chuyển giao tri thức và tạo điều kiện để doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.
Thứ năm, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện quyết định. Không có đội ngũ kỹ sư, chuyên gia, kỹ thuật viên và nhà quản trị giỏi thì không thể thu hút, giữ chân các dự án công nghệ cao, cũng không thể chuyển từ gia công, lắp ráp sang thiết kế, nghiên cứu, sản xuất sản phẩm và dịch vụ có giá trị gia tăng cao.
Các địa phương có Khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao phải chủ động liên kết với các cơ sở giáo dục, viện nghiên cứu và doanh nghiệp để đào tạo theo nhu cầu của ngành, cụm liên kết và các dự án chiến lược. Phải tạo điều kiện để người Việt Nam từng bước đảm nhận các vị trí kỹ thuật, quản lý, nghiên cứu, thiết kế và vận hành chuỗi cung ứng trong doanh nghiệp FDI.
Thứ sáu, đầu tư mạnh hơn cho hạ tầng chiến lược và hạ tầng phục vụ nền kinh tế mới. Muốn thu hút các dự án lớn, công nghệ cao, trung tâm dữ liệu, trung tâm nghiên cứu, trung tâm tài chính, khu thương mại tự do hay nhà máy hiện đại, phải có điện ổn định, năng lượng sạch, cảng biển, sân bay, đường cao tốc, đường sắt, hạ tầng số, khu công nghiệp sinh thái và môi trường sống tốt cho chuyên gia, người lao động.
Phải coi hạ tầng là nền tảng của năng lực cạnh tranh quốc gia. Các địa phương không thể tiếp tục phát triển Khu công nghiệp manh mún, dàn trải, thiếu kết nối, thiếu nhà ở công nhân, dịch vụ xã hội, đào tạo nghề, thiếu liên kết với doanh nghiệp trong nước.
Thứ bảy, đổi mới căn bản công tác xúc tiến đầu tư. Không tiếp cận tràn lan mà gặp gỡ có mục tiêu, chuẩn bị kỹ làm việc với từng tập đoàn hoặc một nhóm tập đoàn, quỹ đầu tư, đối tác chiến lược. (Xác định rõ đối tác cần mời, ngành cần thu hút, địa điểm dự án và các điều kiện cần chuẩn bị về đất đai, điện, hạ tầng, nhân lực, chính sách và nhà cung ứng).
Phải đồng hành với nhà đầu tư từ khi tìm hiểu đến triển khai, vận hành và mở rộng. Hỗ trợ sau cấp phép, tháo gỡ vướng mắc cho dự án hiện hữu, tạo điều kiện, khuyến khích để nhà đầu tư mở rộng đầu tư, giữ lại lợi nhuận tái đầu tư thay vì chuyển về nước.Cần cơ cấu lại và nâng cao năng lực cơ quan xúc tiến đầu tư ở cả Trung ương và địa phương.
Thứ tám, phát triển thị trường vốn hiện đại để thu hút dòng vốn đầu tư gián tiếp dài hạn, ổn định và có trách nhiệm. Nghị quyết 10 không chỉ đặt vấn đề về FDI mà còn yêu cầu phát triển thị trường vốn, nâng hạng thị trường chứng khoán, các quỹ đầu tư, trung tâm tài chính quốc tế và khu thương mại tự do.
Việt Nam không chỉ là nơi đặt nhà máy mà phải trở thành nơi huy động, phân bổ vốn và cung cấp các dịch vụ tài chính, công nghệ, đổi mới sáng tạo cho khu vực. Quá trình này phải gắn với an ninh tài chính, an toàn hệ thống, minh bạch thông tin, bảo vệ nhà đầu tư và kiểm soát rủi ro về dòng vốn, rửa tiền, đầu cơ, thao túng thị trường.