Mặt bằng lãi suất cao là một trong những rào cản trong tiếp cận tín dụng
Chính sách tiền tệ “linh hoạt và thận trọng”
Ngân hàng Nhà nước (NHNN) thông tin, tính đến ngày 28/4/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt trên 19,4 triệu tỷ đồng, tăng 4,42% so với cuối năm 2025 và tăng 18,26% so với cùng kỳ năm ngoái. Cơ cấu tín dụng tương đối phù hợp với cơ cấu các ngành kinh tế; trong đó, tín dụng ngành nông nghiệp chiếm khoảng 6%; tín dụng ngành công nghiệp, xây dựng chiếm 23,5%; tín dụng dịch vụ chiếm 70,5%.
Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh quý I/2026 của các tổ chức tín dụng cho thấy, các tổ chức tín dụng kỳ vọng nhu cầu tín dụng tiếp tục phục hồi trong các quý tiếp theo, song tốc độ phục hồi chưa đồng đều giữa các nhóm khách hàng và ngành nghề. Nhiều tổ chức tín dụng lo ngại rủi ro nợ xấu gia tăng trong bối cảnh chi phí vốn tăng, khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp còn hạn chế và môi trường kinh doanh quốc tế tiềm ẩn nhiều bất định. Đồng thời, các tổ chức tín dụng đánh giá mặt bằng lãi suất huy động có thể chịu áp lực tăng thời gian tới, do cạnh tranh huy động vốn và áp lực tỷ giá, ảnh hưởng đến khả năng duy trì mặt bằng lãi suất cho vay thấp như giai đoạn trước.
Ông Nguyễn Phi Lân, Vụ trưởng Vụ Dự báo Thống kê, Ổn định Tiền tệ tài chính, NHNN cho rằng, Việt Nam hiện đang đối mặt với thực trạng nền kinh tế có mức độ phụ thuộc rất lớn vào vốn tín dụng. Theo ông Lân, việc mặt bằng lãi suất quốc tế duy trì ở mức cao buộc NHNN phải điều hành chính sách tiền tệ một cách “chủ động, linh hoạt và thận trọng” để vừa kiểm soát lạm phát ở mức mục tiêu 4,5% (± 0,5%), vừa ổn định tỷ giá mà vẫn phải hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.
Trong 5 tháng đầu năm 2026, NHNN giữ nguyên các mức lãi suất điều hành nhằm tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng tiếp cận nguồn vốn từ NHNN với chi phí thấp để góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. NHNN chỉ đạo các tổ chức tín dụng triển khai các giải pháp ổn định mặt bằng lãi suất. Đến ngày 20/4/2026, lãi suất cho vay bình quân đối với giao dịch phát sinh mới ở mức 8,38%/năm, giảm 0,44%/năm so với cuối năm 2025.
Năm 2026, mục tiêu tăng trưởng tín dụng toàn ngành được NHNN đề ra là 15%, chậm lại so với mức tăng hơn 19% trong năm ngoái. Dòng vốn tín dụng cũng được định hướng đi vào lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực ưu tiên trong nền kinh tế, hạn chế vào lĩnh vực đầu cơ. Theo ông Trần Hùng Huy, Chủ tịch Hội đồng quản trị ACB, đây vừa là thách thức vừa là cơ hội với Ngân hàng. Chỉ tiêu tăng trưởng bị thu hẹp, nhưng ACB lại có điều kiện tái cơ cấu danh mục tín dụng, tập trung vào các khoản vay có hiệu quả cao hơn và cải thiện biên lợi nhuận (NIM) từ hoạt động cho vay.
Năm nay, ACB đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng khoảng 16%, thấp hơn mức thực hiện khoảng 18,3% của năm 2025. Trong quý đầu năm nay, dư nợ tín dụng của nhà băng này tăng trưởng 3%, thấp hơn mức bình quân toàn ngành (ước khoảng 3,18%).
“Dù tăng trưởng tín dụng có thể chậm lại nhưng chúng tôi kỳ vọng hiệu quả sinh lời từ hoạt động cho vay sẽ được cải thiện, duy trì tỷ lệ nợ xấu thấp, đảm bảo an toàn trong trung và dài hạn”, ông Huy nói.
Thực tế cho thấy, tăng trưởng tín dụng có sự phân hóa lớn giữa các nhà băng. Nếu như một số nhà băng tăng trưởng tín dụng chậm lại so với cùng kỳ, hoặc tăng trưởng âm so với cuối năm ngoái thì vẫn có một số nhà băng đạt mức tăng trưởng tín dụng ấn tượng như VPBank (tăng 10,2% so với cuối năm 2025), HDBank.
Ông Trần Hoài Phương, Giám đốc Khối Khách hàng doanh nghiệp HDBank cho biết, tính đến ngày 31/3/2026, tổng dư nợ tín dụng của Ngân hàng đạt 635.085 tỷ đồng, tăng 8% so với cuối năm 2025, tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên và là các động lực tăng trưởng của nền kinh tế. Tổng vốn huy động trong kỳ vượt 880.000 tỷ đồng, tăng 5,9%; trong đó, tiền gửi của khách hàng vượt 725.000 tỷ đồng, tăng 11,9%.
Nhờ việc nhận chuyển giao ngân hàng yếu kém (DongABank, nay đổi tên thành VikkiBank), HDBank được giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cao hơn các nhà băng khác và mục tiêu tăng trưởng dư nợ Ngân hàng đưa ra cho năm nay là từ 35 - 37%...
Cân bằng đa mục tiêu
Theo ông Nguyễn Phi Lân, áp lực đối với hệ thống ngân hàng đang gia tăng khi chênh lệch giữa tăng trưởng tín dụng và huy động vốn có xu hướng mở rộng, trong khi tỷ lệ tín dụng/GDP của Việt Nam hiện ở mức rất cao so với nhiều quốc gia trong khu vực.
“Điều này phản ánh mức độ phụ thuộc lớn của nền kinh tế vào vốn tín dụng ngân hàng, đồng thời tiềm ẩn rủi ro đối với thanh khoản và an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng nếu xuất hiện các cú sốc từ bên ngoài, hoặc chất lượng tài sản sẽ suy giảm”, ông Lân nói và cho rằng, trong bối cảnh đó, dư địa điều hành chính sách tiền tệ không còn nhiều như các giai đoạn trước, đặc biệt khi chính sách tiền tệ đồng thời phải xử lý nhiều mục tiêu như kiểm soát lạm phát, ổn định tỷ giá, hỗ trợ tăng trưởng và bảo đảm an toàn hệ thống. Điều này đặt ra yêu cầu cần phát triển cân bằng hơn giữa thị trường tiền tệ và thị trường vốn, đa dạng hóa các kênh dẫn vốn cho nền kinh tế, giảm dần sự phụ thuộc quá lớn vào vốn tín dụng.
Đồng quan điểm, TS. Đỗ Thiên Anh Tuấn (Đại học Fulbright) cho rằng, tỷ lệ tín dụng trên GDP của Việt Nam đang ở mức đáng báo động, đạt khoảng 145% vào tháng 4/2026, tương đương 19,4 triệu tỷ đồng. Ngân hàng Thế giới (World Bank) đã đưa ra những cảnh báo về rủi ro tiềm ẩn khi nền kinh tế quá dựa vào kênh này. Rủi ro nợ xấu, sự chênh lệch giữa tăng trưởng tín dụng và huy động vốn có xu hướng mở rộng, gây áp lực lên thanh khoản và an toàn hệ thống. Các tổ chức tín dụng đang lo ngại rủi ro nợ xấu gia tăng khi chi phí vốn tăng cao và khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp còn hạn chế.
Năm 2026, NHNN định hướng tăng trưởng tín dụng khoảng 15%, xấp xỉ tăng trưởng GDP danh nghĩa; dù thấp hơn mức 19,1% của năm 2025, song đây là lựa chọn hợp lý để giữ ổn định vĩ mô. Theo đó, tín dụng ròng dự kiến bơm thêm vào nền kinh tế sẽ khoảng 2,8 triệu tỷ đồng, tương đương gần 19% GDP. Nếu loại trừ phần tín dụng tiêu dùng khoảng 20%, còn lại hơn 80% dư nợ, tương đương 15,2% GDP có thể phân bổ cho lĩnh vực sản xuất và những hoạt động khác. Phần vốn còn thiếu, khoảng 4% GDP, phải được bù đắp từ thị trường vốn.
Ông Tuấn cho rằng, đây là mục tiêu khả thi nếu nâng tỷ lệ huy động qua kênh cổ phiếu và trái phiếu từ khoảng 3% GDP hiện nay lên 4 - 5% GDP trong giai đoạn tới. Nhưng để đạt được yêu cầu này, cần nỗ lực tái cấu trúc thị trường vốn theo hướng tăng phát hành đại chúng, mở rộng vai trò của doanh nghiệp sản xuất ngoài ngân hàng, bất động sản, đẩy nhanh lộ trình nâng hạng thị trường chứng khoán và thu hút vốn ngoại.