Thiết kế chính sách thuế linh hoạt để hỗ trợ sản xuất

Quốc hội vừa ban hành Nghị quyết 43/2026/QH16 (Nghị quyết 43), giảm 30% thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2026 và 2027 cho cá nhân kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ.
PGS-TS. Lý Phương Duyên (Học viện Tài chính)

Theo PGS-TS. Lý Phương Duyên (Học viện Tài chính), chính sách thuế đã được thiết kế vừa linh hoạt để hỗ trợ phục hồi và mở rộng sản xuất, vừa bảo đảm tính bền vững của nguồn thu trong trung và dài hạn.

Cá nhân kinh doanh và cộng đồng doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ rất vui mừng khi được giảm 30% số thuế phải nộp. Là chuyên gia về lĩnh vực thuế, bà đánh giá thế nào về tác động của Nghị quyết 43?

Nghị quyết 43 giảm 30% thuế thu nhập cá nhân cho người có thu nhập từ kinh doanh, giảm 30% thuế thu nhập doanh nghiệp cho doanh nghiệp. Chính sách giảm thuế này chỉ thực hiện trong năm 2026 và 2027 với điều kiện là cá nhân và doanh nghiệp có doanh thu không quá 10 tỷ đồng/năm, trừ trường hợp doanh nghiệp chia tách sau ngày 24/8/2026 (ngày Nghị quyết 43 có hiệu lực) có tổng doanh thu hàng năm của các doanh nghiệp sau chia tách trên 10 tỷ đồng.

Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới, với mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số, đồng thời yêu cầu giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm các cân đối lớn. Mục tiêu tăng trưởng 2 con số làm gia tăng nhu cầu huy động nguồn lực cho đầu tư, đổi mới sáng tạo, phát triển hạ tầng và nâng cao năng suất, nhưng cũng đòi hỏi các chính sách huy động nguồn lực không làm suy yếu động lực đầu tư của khu vực sản xuất. Tuy nhiên, trong bối cảnh kinh tế vĩ mô vẫn chịu tác động mạnh từ các biến động kinh tế, chính trị toàn cầu, yêu cầu đặt ra không chỉ là duy trì tốc độ tăng trưởng cao, mà còn phải củng cố vững chắc các nền tảng của tăng trưởng dài hạn. Điều đó đòi hỏi chính sách thuế nói chung, chính sách thuế đối với khu vực kinh tế tư nhân nhỏ nói riêng phải được thiết kế theo hướng vừa linh hoạt để hỗ trợ phục hồi và mở rộng sản xuất, vừa bảo đảm tính bền vững của nguồn thu trong trung và dài hạn. Tôi cho rằng, Nghị quyết 43 đã đáp ứng được 2 mục tiêu này.

Mục tiêu tăng trưởng 2 con số đòi hỏi phải huy động nguồn lực, nhưng đồng thời cũng cần nuôi dưỡng nguồn thu. Theo bà, chính sách thuế cần cân bằng hai yêu cầu này như thế nào?

Gọi là giảm 30% thuế cho một số nhóm đối tượng, nhưng thực tế là đa số người nộp thuế thu nhập cá nhân có thu nhập từ kinh doanh và doanh nghiệp được hưởng vì điều kiện đưa ra là doanh thu không quá 10 tỷ đồng/năm. Tuyệt đại đa số là doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ có doanh thu dưới 10 tỷ đồng/năm; số cá nhân kinh doanh có doanh thu trên 10 tỷ đồng/năm không nhiều. Vì vậy, việc tiếp tục giảm thuế là một bài toán rất khó, bởi chúng ta đồng thời thực hiện 3 mục tiêu, vừa huy động nguồn lực, vừa nuôi dưỡng nguồn thu, vừa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Ba mục tiêu này có mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau nhưng không phải lúc nào cũng đồng thuận.

Muốn tăng trưởng kinh tế thì phải có nguồn lực. Một trong những khu vực có thể huy động nguồn lực chính là khu vực kinh tế tư nhân. Đây cũng là khu vực có vai trò rất lớn đối với nền kinh tế, đóng góp trên 50% GDP và thu hút trên 80% lao động. Vì vậy, chính sách thuế đối với khu vực này không thể chỉ nhìn ở góc độ thu được bao nhiêu tiền cho ngân sách, mà phải nhìn cả khả năng duy trì và mở rộng nguồn thu trong những năm tiếp theo.

Chiến lược cải cách hệ thống thuế đến năm 2030 (Quyết định 508/2022/QĐ-TTg) đặt mục tiêu, đến năm 2025, tỷ lệ huy động vào NSNN bình quân không thấp hơn 16% GDP, trong đó, tỷ lệ huy động từ thuế, phí khoảng 13-14% GDP; đến năm 2030, tỷ lệ huy động vào NSNN khoảng 16-17% GDP, trong đó, thu từ thuế, phí, lệ phí khoảng 14-15% GDP.

Theo số liệu của Bộ Tài chính, năm 2025, tỷ lệ huy động vào NSNN đạt 20,9% GDP, trong đó, thu từ thuế và phí đạt 15,1% GDP. Như vậy, việc giảm 30% thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân cũng là một trong các biện pháp để thực hiện thành công Chiến lược cải cách hệ thống thuế đến năm 2030.

Thưa bà, vấn đề là phải bảo đảm nguồn lực cho đầu tư phát triển?

Theo thống kê, tổng thu NSNN 8 tháng của năm 2026 đã đạt 80% dự toán năm, tăng 16%; trong đó, thu từ hoạt động sản xuất, kinh doanh trong nước (thu nội địa) đạt 79,7% dự toán năm, chiếm 86,6% tổng thu NSNN, tăng 16,6% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, việc giảm 30% thuế theo Nghị quyết 43 không ảnh hưởng đến cân đối ngân sách, nói cách khác, NSNN vẫn bảo đảm các nhu cầu chi cho phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý nhà nước, an sinh xã hội, thanh toán các khoản nợ đến hạn cũng như chi trả kịp thời cho các đối tượng theo quy định.

Kể từ khi xảy ra đại dịch Covid-19, nhằm hỗ trợ người dân, doanh nghiệp vượt qua khó khăn, Quốc hội, Chính phủ, Bộ Tài chính đã nhiều lần thực hiện miễn, giảm, gia hạn thuế, phí, lệ phí, tiền thuê đất, nhưng số thu ngân sách nói chung, thu từ khu vực kinh tế tư nhân nói riêng vẫn tiếp tục tăng mạnh qua từng năm. Nếu như năm 2020, khu vực này đóng góp vào NSNN khoảng 247.000 tỷ đồng, thì đến năm 2024 là 392.000 tỷ đồng và năm 2025 lên tới 502.600 tỷ đồng, vượt dự toán 35,7%. Xây dựng chính sách giảm 30% thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân lần này trình Quốc hội thông qua Nghị quyết 43 đã được Bộ Tài chính tính toán rất kỹ nên không lo về cân đối ngân sách nhà nước.

Tuy nhiên, việc miễn, giảm thuế luôn là bài toán phức tạp, không đơn giản là NSNN giảm thu bao nhiêu, các đối tượng được thụ hưởng bao nhiêu, mà khi đưa ra một chính sách miễn, giảm thuế, phải đặt câu hỏi, số thu ngân sách giảm trong ngắn hạn sẽ đổi lại được điều gì trong trung và dài hạn. Doanh nghiệp được ưu đãi thuế có thêm nguồn lực để đầu tư, mở rộng sản xuất, tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, “tiếp sức” cho thị trường nội địa và hết thời gian miễn, giảm, NSNN có tăng thu trở lại hay không. Muốn biết chính sách có thực sự đạt được mục tiêu này hay không thì phải có đánh giá cụ thể, chứ không thể chỉ dựa vào kỳ vọng.

Từ những thành công của việc “khoan thư sức dân” trước đây, nhiều chuyên gia kinh tế đề xuất nâng ngưỡng doanh thu miễn thuế đối với hộ kinh doanh lên 2-3 tỷ đồng, thay vì 1 tỷ đồng như hiện nay. Quan điểm của bà thế nào?

Chính sách thuế của Việt Nam thay đổi rất mạnh trong những năm gần đây. Đặc biệt là năm 2025, chính sách thuế được sửa đổi, bổ sung rất tích cực để giảm nghĩa vụ tài chính cho người nộp thuế, đặc biệt là với doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ, doanh nghiệp mới tham gia thị trường, cá nhân kinh doanh và các hoạt động đổi mới sáng tạo.

Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2025 quy định mức thuế suất 15% đối với doanh nghiệp có tổng doanh thu không quá 3 tỷ đồng/năm, thuế suất 17% đối với doanh nghiệp có doanh thu trên 3 tỷ đồng đến không quá 50 tỷ đồng/năm, trong khi thuế suất phổ thông là 20%. Từ năm 2026, miễn thuế thu nhập doanh nghiệp cho doanh nghiệp siêu nhỏ và cá nhân kinh doanh (có tổng doanh thu từ 1 tỷ đồng/năm trở xuống). Các chính sách thuế ưu đãi này hướng đến mục tiêu hỗ trợ quá trình hình thành, tích lũy và đổi mới của khu vực kinh tế tư nhân.

Các chính sách thuế mới tập trung ưu đãi đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa mới thành lập, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, hoạt động nghiên cứu và phát triển, cũng như nhà đầu tư, chuyên gia và nhà khoa học tham gia hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Xét về kinh tế, các chính sách này thể hiện sự dịch chuyển từ ưu tiên huy động nguồn thu hiện tại sang dành lại một phần nguồn lực cho đầu tư, đổi mới và phát triển doanh nghiệp. Tuy nhiên, giảm nghĩa vụ thuế không đồng nhất với nuôi dưỡng nguồn thu. Một ưu đãi chỉ tạo giá trị nếu làm phát sinh đầu tư, đổi mới sáng tạo, đầu tư cho khoa học, công nghệ, mở rộng hoạt động, từ đó gia tăng nguồn thu cho tương lai.

Bà có thể phân tích rõ hơn mối liên hệ giữa giảm nghĩa vụ thuế với nuôi dưỡng nguồn thu?

Các chính sách ưu đãi miễn, giảm thuế căn cứ vào doanh thu, hay nói đúng hơn là quy mô hoạt động của cơ sở sản xuất, kinh doanh. Khi đưa ra ngưỡng cụ thể để xác định ưu đãi giúp xác định đối tượng nào được hưởng chính sách, mức ưu đãi được hưởng bao nhiêu. Nhưng đồng thời, chính ngưỡng đó cũng có thể tạo ra động cơ để người nộp thuế tìm cách đưa doanh thu hoặc thu nhập xuống dưới ngưỡng để được hưởng mức thuế thấp hơn.

Doanh nghiệp hoặc hộ kinh doanh có thể tìm cách phân chia cơ sở thuế, chia nhỏ hoạt động hoặc điều chỉnh doanh thu để rơi vào ngưỡng có lợi nhất, được người nộp thuế gọi là “tối ưu hóa thuế”, còn cơ quan quản lý thuế gọi là “bẫy quy mô”. Dù là gọi bằng gì đi chăng nữa, nếu để xảy ra tình trạng này thì giảm nghĩa vụ thuế không đồng nhất với nuôi dưỡng nguồn thu. Bởi nuôi dưỡng nguồn thu là số thu trong tương lai phải tăng lên sau thời gian thực hiện các chính sách ưu đãi thuế.

Một vấn đề đáng chú ý nữa là liệu có nguy cơ tạo ra động cơ để hộ kinh doanh hoặc doanh nghiệp tìm cách giữ quy mô doanh thu dưới ngưỡng để được hưởng ưu đãi hay không. Đây là một trong những nguyên nhân khiến “doanh nghiệp không chịu lớn”. Hiện tượng này xảy ra thì rõ ràng giảm nghĩa vụ thuế không đồng nhất với nuôi dưỡng nguồn thu.

Mạnh Bôn
baodautu.vn

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục