Thị trường hàng hóa thế giới tuần từ 24-31/10: Dầu tăng gần 14% trong tháng 10 - cao nhất 6 tháng, vàng mất mốc 4.000 USD/ounce

(ĐTCK)  Kết thúc tuần giao dịch từ 24-31/10, thị trường hàng hóa thế giới chứng kiến giá dầu tiếp tục đi lên và ghi nhận tháng tăng thứ 4 liên tiếp do căng thẳng tại Trung Đông, trong khi vàng đánh mất ngưỡng 4.000 USD/ounce, bạc giảm gần 9%. Nhóm nông sản và nguyên liệu công nghiệp cũng đồng loạt chịu sức ép từ triển vọng nguồn cung.

Năng lượng: Giá dầu tăng 4 tháng liên tiếp

Mặc dù có một số phiên điều chỉnh do kỳ vọng Mỹ và Iran nối lại đàm phán, giá dầu tuần qua vẫn duy trì xu hướng đi lên, đặc biệt trong phiên cuối tuần 30/10 khi những lo ngại về an ninh hàng hải tại eo biển Hormuz gia tăng.

Trong phiên 26/10, giá dầu Brent giảm 0,78% xuống 115,81 USD/thùng, trong khi dầu WTI giảm 1,46% về 101,76 USD/thùng. Sang ngày 27/10, giá dầu tiếp tục chịu áp lực khi những tín hiệu ngoại giao từ Qatar, Ả Rập Xê-út, Thổ Nhĩ Kỳ và Pakistan làm dấy lên hy vọng căng thẳng tại Trung Đông có thể được kiểm soát. Tuy nhiên, thị trường nhanh chóng đảo chiều trong ngày 28/10, khi thông tin về các cuộc tấn công nhằm vào cơ sở năng lượng Ả Rập Xê-út và giao tranh tại Yemen làm gia tăng lo ngại về nguồn cung.

Đến ngày 29/10, giá dầu lại điều chỉnh giảm khi triển vọng Mỹ và Iran nối lại đàm phán khiến phần bù rủi ro địa chính trị suy yếu: Dầu Brent giảm 0,38% về 114,88 USD/thùng; dầu WTI giảm 0,76% về 102 USD/thùng.

Tuy nhiên, diễn biến trong phiên cuối tuần đã đảo ngược xu hướng này. Ngày 30/10, giá dầu Brent giao tháng 12/2026 tăng 2,76 USD (+2,4%) lên 117,64 USD/thùng, cũng là mức đóng cửa cao nhất kể từ cuối tháng 4/2026. Hợp đồng Brent giao tháng 1/2027 tăng 2,63 USD lên 113,43 USD/thùng. Dầu WTI tăng 2,12 USD (+2,08%) lên 104,12 USD/thùng. Tính cả tuần, dầu Brent tăng khoảng 1,6% và dầu WTI tăng khoảng 2,3%. Xét trong cả tháng 10, hai loại dầu tiêu chuẩn tăng lần lượt 13,6% và 15,2% - đánh dấu tháng tăng giá thứ tư liên tiếp và mức tăng mạnh nhất trong 6 tháng.

Yếu tố chi phối thị trường dầu mỏ vẫn là nguy cơ xung đột Mỹ - Iran leo thang và ảnh hưởng đến hoạt động vận chuyển qua eo biển Hormuz. Ngày 30/10, Cơ quan Điều hành thương mại hàng hải Anh (UKMTO) thông báo, 1 tàu chở dầu bị tấn công bằng thiết bị nổ gắn vào thân tàu từ một chiếc thuyền nhỏ. Đây được xem là vụ tấn công thành công đầu tiên bằng loại thiết bị này tại Hormuz kể từ khi chiến tranh Mỹ - Israel với Iran bùng phát hồi tháng 2/2026. Cùng thời điểm, lực lượng Houthi tại Yemen tuyên bố tấn công nhiều địa điểm ở Ả Rập Xê-út, bao gồm các nhà máy lọc dầu Ras Tanura, Rabigh và cơ sở sản xuất Abqaiq của Saudi Aramco.

Về cung cầu, Cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA) cho biết, nguồn cung dầu toàn cầu tăng 2,5 triệu thùng/ngày trong tháng 9, lên 102,3 triệu thùng/ngày - chủ yếu nhờ sản lượng phục hồi tại các quốc gia Vùng Vịnh. Tuy nhiên, lượng tồn kho dầu trên đất liền toàn cầu trong tháng 9 giảm 113 triệu thùng và tính đến cuối tháng thấp hơn 509 triệu thùng so với cuối tháng 2/2026.

Ở chiều ngược lại, IEA dự báo, nhu cầu dầu toàn cầu trong quý IV/2026 giảm 2,5 triệu thùng/ngày so với cùng kỳ năm trước. Tính cả năm 2026, nhu cầu được dự báo giảm 2,6 triệu thùng/ngày, xuống khoảng 102,4 triệu thùng/ngày. Đáng chú ý, xuất khẩu diesel toàn cầu trong tháng 9 giảm 700.000 thùng/ngày so với cùng kỳ năm trước do nguồn cung từ Nga và Trung Đông suy giảm.

Kim loại: Vàng mất mốc 4.000 USD/ounce, bạc giảm gần 9%; quặng sắt giảm tuần thứ 7 liên tiếp, thép cũng đi xuống; đồng, nhôm phục hồi

Ở nhóm kim loại quý, giá vàng có thời điểm phục hồi trong 2 phiên đầu tuần nhờ lực mua bắt đáy và giá năng lượng hạ nhiệt, nhưng nhanh chóng đảo chiều khi triển vọng lãi suất Mỹ trở thành yếu tố chi phối tâm lý nhà đầu tư.

Ngày 26/10, giá vàng giao ngay tăng 0,6% lên 4.020,60 USD/ounce, trong khi vàng kỳ hạn Mỹ giao tháng 12/2026 tăng 0,8% lên 4.038,40 USD/ounce. Tuy nhiên, đà phục hồi không kéo dài. Ngày 29/10, vàng giao ngay giảm 1,4% về 4.008,76 USD/ounce, sau khi số liệu lạm phát Mỹ củng cố khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt.

Áp lực bán tăng mạnh trong phiên 30/10. Theo Reuters, vàng giao ngay có thời điểm giảm 3,5% xuống 3.875,97 USD/ounce - thấp nhất từ tháng 10/2025; vàng tương lai Mỹ giao tháng 12/2026 giảm 3,3% xuống 3.898,9 USD/ounce.

Bạc còn chịu áp lực lớn hơn. Sau khi tăng nhẹ lên 54,11 USD/ounce trong ngày 26/10, giá bạc liên tục suy yếu và có thời điểm giảm xuống dưới 50 USD/ounce trong phiên cuối tuần, lần đầu tiên kể từ tháng 11/2025. Theo thống kê của Monex, giá bạc giảm từ 54,27 USD/ounce xuống 49,28 USD/ounce, tương đương mất 4,99 USD (-9,2%).

Bạch kim và palladium cũng đồng loạt đi xuống. Giá bạch kim tham chiếu giảm từ 1.548 USD/ounce xuống 1.439 USD/ounce, mất khoảng 7%; palladium giảm từ 1.060 USD/ounce xuống 991 USD/ounce, tương đương 6,5% - lần đầu tiên rơi xuống dưới ngưỡng 1.000 USD/ounce trong đợt điều chỉnh này.

Áp lực lên kim loại quý đến từ nhiều phía. Mặc dù Fed giữ nguyên lãi suất USD trong vùng 3,75-4%/năm tại cuộc họp cuối tháng 10, cơ quan này không đưa ra tín hiệu rõ ràng về khả năng kết thúc chu kỳ thắt chặt tiền tệ. Trong khi đó, các số liệu kinh tế Mỹ cho thấy, nền kinh tế vẫn duy trì sức tăng trưởng tương đối tốt và lạm phát chưa hạ nhiệt như kỳ vọng.

Một yếu tố khác khiến kim loại quý chịu áp lực là đợt bán tháo cổ phiếu công nghệ Mỹ. Những lo ngại về quy mô đầu tư lớn vào trí tuệ nhân tạo (AI) nhưng chưa bảo đảm khả năng sinh lời đã thúc đẩy hoạt động giảm rủi ro trên thị trường tài chính. Trong bối cảnh đó, một số nhà đầu tư phải bán cả vàng để bổ sung thanh khoản hoặc đáp ứng yêu cầu ký quỹ, khiến vai trò trú ẩn của kim loại quý không phát huy như thông thường.

Ở nhóm kim loại màu, giá đồng kỳ hạn 3 tháng trên Sàn Giao dịch kim loại London (LME) ngày 27/10 tăng 1,1% lên 14.487,50 USD/tấn, sau khi có thời điểm đạt 14.490,50 USD/tấn, cao nhất kể từ ngày 16/10. Nhu cầu đồng phục vụ mở rộng hạ tầng AI và sự phục hồi của cổ phiếu công nghệ góp phần cải thiện tâm lý thị trường.

Đáng chú ý, mức chênh lệch giá đồng nhập khẩu tại cảng Dương Sơn của Trung Quốc tăng lên 188 USD/tấn, cao nhất trong gần 13 năm, cho thấy các doanh nghiệp nước này đang cạnh tranh mạnh để bảo đảm nguồn cung. Tồn kho đồng trên Sàn Giao dịch kỳ hạn Thượng Hải (SHFE) cũng giảm hơn 25%, xuống còn 54.356 tấn theo dữ liệu được Reuters dẫn ngày 26/10. Tuy nhiên, giá đồng không giữ được đà tăng. Đến ngày 30/10, giá đồng LME kỳ hạn 3 tháng giảm 1,58% về 14.154,50 USD/tấn. Tính chung cả tháng 10, giá đồng giảm khoảng 1,8% - chấm dứt chuỗi 3 tháng tăng liên tiếp kể từ tháng 7/2026.

Nhôm cũng tăng trong những phiên đầu tuần. Ngày 27/10, giá nhôm LME tăng 1,5% lên 3.085 USD/tấn, mức cao nhất trong hơn hai tuần. Động lực tăng đến từ hoạt động rút 3.500 tấn nhôm khỏi các kho hàng tại châu Á. Gần như toàn bộ lượng nhôm sẵn có trong hệ thống kho LME thời điểm đó có nguồn gốc từ Nga. Đến ngày 30/10, giá nhôm kỳ hạn 3 tháng đóng cửa ở mức 3.069 USD/tấn.

Kẽm là một trong những kim loại có diễn biến tích cực nhất trong những phiên đầu tuần. Ngày 26/10, giá kẽm kỳ hạn 3 tháng tăng 1,5%, lên 3.800,50 USD/tấn, sau khi có thời điểm đạt 3.821,50 USD/tấn, cao nhất kể từ ngày 12/10. Sang ngày 27/10, giá tiếp tục tăng 0,7%, lên 3.839,50 USD/tấn. Kết thúc ngày 30/10, giá kẽm LME kỳ hạn 3 tháng lùi về 3.842,50 USD/tấn, trước khi giảm 1,49% trong phiên giao dịch qua đêm được SMM ghi nhận ngày 31/10.

Thị trường kẽm được hỗ trợ bởi tình trạng nguồn cung thắt chặt. Theo Nhóm nghiên cứu chì và kẽm quốc tế (ILZSG), thị trường kẽm tinh luyện toàn cầu chuyển từ dư cung 27.500 tấn trong tháng 7 sang thiếu hụt 3.900 tấn trong tháng 8. Tồn kho kẽm trên SHFE giảm 5% so với tuần trước, xuống 137.139 tấn, thấp nhất kể từ tháng 3/2026. Giá điện cao và sản lượng suy giảm tại Peru cũng góp phần hỗ trợ giá.

Nickel có diễn biến kém tích cực hơn. Giá nickel LME ngày 26/10 giảm 0,5%, xuống 15.765 USD/tấn, trước khi phục hồi nhẹ 0,4% trong phiên tiếp theo, lên 15.615 USD/tấn. Đến ngày 30/10, giá nickel kỳ hạn 3 tháng đóng cửa ở 15.271 USD/tấn và tiếp tục giảm 2,03% trong phiên giao dịch qua đêm.

Tập đoàn khai khoáng Nornickel của Nga cảnh báo kế hoạch đại tu lò luyện có thể ảnh hưởng đến sản lượng một số kim loại chủ chốt trong giai đoạn 2027-2028, qua đó đặt ra những vấn đề về triển vọng nguồn cung nickel và palladium trong trung hạn.

Ở nhóm kim loại đen, kết thúc phiên 30/10, giá thép thanh kỳ hạn tháng 11/2026 trên SHFE giảm 2 CNY (-0,07%) về 3.033 CNY/tấn. Trên Sàn Giao dịch Đại Liên (DCE), giá quặng sắt kỳ hạn tháng 11/2026 giảm 7 CNY (-1,03%) về 672 CNY/tấn. Trong khi đó, trên Sàn Giao dịch Singapore (SGX), quặng sắt kỳ hạn tháng 11/2026 giảm 0,68 USD (-0,74%) về 90,7 USD/tấn.

Giá quặng sắt kỳ hạn giảm trong ngày 30/10, xóa bớt một phần đà tăng của phiên trước đó do tồn kho tại cảng tăng trở lại và lợi nhuận của các nhà máy thép vẫn ở mức thấp, theo Reuters.

Trên DCE, hợp đồng quặng sắt kỳ hạn tháng 1/2027 được giao dịch nhiều nhất giảm 1,18% xuống 672 CNY (100,89 USD)/tấn trong phiên 30/10, nhưng cả tuần tăng 0,15% - đánh dấu tuần tăng đầu tiên sau 8 tuần nhờ cước vận tải đi lên. Trên SGX, giá tham chiếu quặng sắt kỳ hạn tháng 12/2026 giảm 0,79% xuống 90,65 USD/tấn.

Các nguyên liệu sản xuất thép khác trên DCE đồng loạt giảm, trong đó than luyện cốc và than cốc lần lượt giảm 1,94% và 1,81%. Các hợp đồng thép tham chiếu trên SHFE suy yếu: Giá thép thanh giảm 0,98%; thép cuộn cán nóng giảm 0,69% và thép không gỉ giảm 0,22%.

Theo các nhà phân tích tại công ty môi giới Huatai Futures, lượng quặng sắt giao từ các nguồn ngoài Úc và Brazil - 2 nước sản xuất lớn nhất thế giới - vẫn ở mức cao, trong khi tồn kho lớn tiếp tục hạn chế đà hồi phục của giá. Theo công ty tư vấn Steelhome, tồn kho quặng sắt tại các cảng chính của Trung Quốc tăng 0,98% so với tuần trước đó lên 153,72 triệu tấn.

Theo số liệu của công ty tư vấn Mysteel, tỷ lệ nhà máy thép có lãi ở mức 11,26%, không đổi so với tuần trước đó. Các nhà phân tích tại công ty môi giới Everbright Futures cho rằng, khi lợi nhuận vẫn ở mức thấp, nhu cầu quặng sắt còn chịu áp lực giảm.

Các biện pháp hạn chế sản xuất vì môi trường tại một số tỉnh miền Bắc Trung Quốc tiếp tục làm giảm sản lượng gang lỏng, dù một số nhà máy đã nối lại sản xuất vào cuối tháng và sản lượng dự kiến phục hồi khi các biện pháp này kết thúc, theo các nhà phân tích tại công ty môi giới GF Futures.

Trong nước, các doanh nghiệp bình ổn giá thép xây dựng. Trong đó, Hòa Phát báo giá mức 14.920 đồng/kg với thép CB240 và 14.210 đồng/kg với D10 CB300; thép Việt Ý Miền Bắc ghi nhận CB240 14.750 đồng/kg và CB300 13.940 đồng/kg. Trong khi đó, Pomina và VJS Miền Bắc đều báo giá CB240 ở mức 14.850 đồng/kg; thép Kyoei và VAS Miền Trung chào giá 15.050 đồng/kg.

Nông sản: Đậu tương xuống thấp nhất 2 tháng, lúa mì và ngô cũng giảm

Thị trường nông sản thế giới nhìn chung suy yếu trong tuần qua. Đậu tương là mặt hàng giảm mạnh nhất trong 3 loại ngũ cốc chủ chốt trên sàn Chicago (CBOT), trong khi lúa mì và ngô cũng kết thúc tuần trong sắc đỏ.

Hợp đồng đậu tương giao tháng 11/2026 chốt phiên 30/10 ở mức 12,2225 USD/bushel, tăng 2,5 cent trong phiên nhưng giảm tổng cộng 34,25 cent/bushel trong cả tuần. Có thời điểm, giá xuống mức thấp nhất 2 tháng.

Nguyên nhân chính là đồng real Brazil suy yếu sau cuộc bầu cử cuối tuần trước, khiến đậu tương nước này trở nên cạnh tranh hơn trên thị trường xuất khẩu và tạo sức ép lên giá đậu tương Mỹ. Bên cạnh đó, các quỹ đầu tư đẩy mạnh thanh lý vị thế mua để chốt lời và giảm rủi ro. Trong tuần, các quỹ giảm vị thế mua ròng đậu tương 21.536 hợp đồng, xuống còn 185.400 hợp đồng.

Hợp đồng lúa mì mềm đỏ CBOT giao tháng 12/2026 đóng cửa ngày 30/10 ở mức 6,0325 USD/bushel và giảm 21,5 cent/bushel trong tuần; lúa mì Kansas City giao tháng 12/2026 giảm 20,25 cent/bushel; lúa mì Minneapolis giao tháng 12/2026 giảm 17,75 cent/bushel.

Đà giảm phần nào được hạn chế nhờ doanh số xuất khẩu lúa mì Mỹ tăng lên mức cao nhất trong niên vụ và sự quan tâm mua hàng từ Trung Quốc. Tuy nhiên, việc giá tiếp tục suy yếu ngay cả khi xuất hiện thông tin về các cuộc tấn công mới tại Biển Đen cho thấy thị trường đang chú trọng nhiều hơn đến triển vọng nguồn cung và khả năng lưu thông hàng hóa.

Ngô có mức giảm nhẹ hơn 2 mặt hàng còn lại. Hợp đồng ngô giao tháng 12/2026 trên CBOT chốt phiên cuối tuần qua giảm 3,5 cent về mức 4,4775 USD/bushel và giảm 8,25 cent/bushel trong tuần.

Nhu cầu phục vụ sản xuất ethanol và các đơn hàng từ Hàn Quốc góp phần hỗ trợ giá ngô. Tuy nhiên, tiến độ thu hoạch nhanh tại Mỹ, triển vọng nguồn cung dồi dào và hoạt động gieo trồng thuận lợi tại Argentina tiếp tục tạo sức ép. Lượng cam kết xuất khẩu ngô Mỹ vẫn thấp hơn 34% so với cùng kỳ năm trước, cho thấy nhu cầu quốc tế chưa thực sự khả quan.

Nguyên liệu công nghiệp: Dầu cọ, cà phê, cacao, đường và bông cùng lùi sâu, cao su liên tục đảo chiều

Thị trường cà phê quốc tế tuần qua nối dài xu hướng giảm giá trên cả 2 sàn giao dịch chính, chịu tác động kép từ đà mất giá của đồng Real Brazil (BRL) và sự cải thiện của lượng tồn kho được chứng nhận. Việc đồng BRL suy yếu so với USD đã thúc đẩy các doanh nghiệp Brazil đẩy mạnh bán ra nhằm tối ưu hóa doanh thu quy đổi sang nội tệ.

Tại sàn London, giá cà phê Robusta kỳ hạn tháng 11/2026 đóng cửa tuần ở mức 3.219 USD/tấn, giảm 9 USD/tấn (-0,3%); kỳ hạn giao tháng 1/2027 lùi về 3.204 USD/tấn, giảm 38 USD/tấn (-1,2%). Mặc dù vậy, giá Robusta nội địa tại Indonesia vẫn ghi nhận mức chênh lệch (premium) gia tăng mạnh do nguồn cung thực tế hạn chế, hợp đồng Robusta Sumatra kỳ hạn tháng 11/2026 hiện được chào bán với mức cộng lên tới 220 USD/tấn (so với 165-200 USD/tấn tuần trước), còn kỳ hạn tháng 1/2027 đạt mức cộng 300 USD/tấn.

Tại sàn New York, giá cà phê Arabica chịu lực bán tháo gay gắt hơn. Hợp đồng Arabica giao tháng 12/2026 mất 20,3 US cent/pound (-6,6%) về 287,2 US cent/pound; hợp đồng Arabica tháng 3/2027 giảm 16,6 US cent/pound (-5,7%) về 276,8 US cent/pound. Về khía cạnh nguồn cung, dữ liệu ICE ghi nhận 47.476 bao cà phê Brazil đang chờ kiểm định, đưa tổng tồn kho Arabica Brazil trên sàn đạt 83.052 bao - mốc cao nhất 9 tháng. Tổng tồn kho Arabica ICE đạt 225.068 bao, nhích nhẹ khỏi mốc đáy 27 năm (217.646 bao). Đối với Robusta, tồn kho ICE chạm đỉnh 6.809 lô trong tuần trước khi điều chỉnh nhẹ về 6.763 lô.

Giá ca cao kỳ hạn tiếp tục giao dịch giằng co quanh ngưỡng 5.400 USD/tấn, neo sát vùng đáy thấp nhất kể từ đầu tháng 10. Sức ép giảm giá chủ yếu bắt nguồn từ đà tăng liên tục của lượng hàng lưu kho, khi tổng tồn kho ca cao do sàn ICE giám sát bứt phá lên 3.688.949 bao vào ngày 29/10, thiết lập mốc cao nhất trong 2,5 năm qua.

Tại Bờ Biển Ngà (quốc gia sản xuất ca cao lớn nhất thế giới), nông dân cho biết, dù lượng mưa thấp hơn trung bình nhiều năm, điều kiện độ ẩm vẫn đủ nâng đỡ cho sự phát triển của vụ thu hoạch chính (kéo dài từ tháng 9/2026 đến tháng 2/2027). Tuy nhiên, triển vọng tổng thể cho niên vụ 2026-2027 bị đánh giá khá u uất. Theo dự báo mới nhất từ StoneX, sản lượng ca cao toàn cầu niên vụ này dự kiến sụt giảm 9,6% xuống còn 4,74 triệu tấn dưới tác động của hiện tượng El Nino tại Bờ Biển Ngà, Ghana, Ecuador và Indonesia. Sự sụt giảm đó có thể chuyển trạng thái thị trường từ thặng dư 494.000 tấn (niên vụ 2025-2026) sang thâm hụt 64.000 tấn trong niên vụ 2026-2027.

Giá đường kỳ hạn trên sàn New York lùi sâu xuống mốc 19,3 cent/pound, chạm sát vùng đáy thấp nhất kể từ đầu tháng 10. Đà suy yếu của đồng Real Brazil tiếp tục là động lực chính kích thích đà xuất khẩu từ Nam Mỹ.

Mặc dù vậy, các yếu tố nền tảng về nguồn cung dài hạn vẫn tiềm ẩn rủi ro tăng giá. Báo cáo nửa đầu tháng 10 cho thấy, sản lượng mía và đường tại vùng Trung - Nam Brazil đã sụt giảm do mưa lớn kéo dài làm trì hoãn công tác đồng áng. Hiện tượng El Nino được nhận diện đang tác động sớm hơn dự kiến, gây lo ngại về đà gián đoạn ép mía niên vụ tới. Bên cạnh đó, bức tranh cung - cầu toàn cầu vẫn bị đe dọa bởi dự báo sản lượng sụt giảm tại Ấn Độ cùng xu hướng thu hẹp diện tích gieo trồng mía/củ cải đường tại khu vực châu Âu.

Dầu cọ Malaysia cũng trải qua tuần biến động mạnh. Trong phiên 29/10, hợp đồng dầu cọ kỳ hạn trên sàn Bursa Malaysia giảm hơn 1,5% xuống 4.600 ringgit/tấn, do đồng ringgit mạnh lên, giá dầu thực vật cạnh tranh suy yếu và lo ngại tồn kho ở mức cao.

Tuy nhiên, trong phiên cuối tuần 30/10, giá phục hồi nhờ hoạt động mua vào ở vùng giá thấp và sự tăng giá của dầu cọ Đại Liên cùng dầu đậu tương Chicago. Hợp đồng dầu cọ chuẩn giao tháng 1/2027 trên Bursa Malaysia tăng 66 ringgit (+1,43%) lên 4.682 ringgit (1.155,19 USD)/tấn. Tính chung tháng 10, hợp đồng này tăng 1,56% - sau khi giảm 5,8% trong tháng 9.

Đối với bông, thị trường Mỹ tiếp tục ghi nhận xu hướng giảm. Hợp đồng bông ICE giao tháng 12/2026 giảm từ 78,50 cent/pound trong phiên 29/10 xuống 77,83 cent/pound trong phiên 30/10. Tiến độ thu hoạch bông Mỹ đến ngày 25/10 đạt 52% diện tích, cao hơn bình quân 5 năm khoảng 7%, trong khi tỷ lệ mở quả đạt 89%, thấp hơn bình quân 5 năm khoảng 3%. Doanh số bán ròng bông Upland của Mỹ trong tuần kết thúc ngày 22/10 đạt 216.500 kiện, cho thấy hoạt động mua hàng đã cải thiện, dù lượng xuất khẩu thực tế vẫn thấp hơn mục tiêu của USDA.

Một diễn biến đáng chú ý khác là Ấn Độ quyết định gia hạn miễn thuế nhập khẩu bông thêm 2 tháng, đến hết tháng 12/2026. Trước đó, nước này áp dụng chính sách miễn thuế nhập khẩu 11% từ ngày 1/6-31/10 nhằm tăng nguồn cung trong mùa khan hiếm. Giá bông nội địa vẫn ở mức cao do lo ngại sản lượng giảm sau những trận mưa gió mùa không đều. Việc gia hạn được kỳ vọng giúp giảm chi phí nguyên liệu cho các nhà máy dệt, ổn định giá trong nước và tạo thêm cơ hội xuất khẩu cho Mỹ, Brazil và Úc.

Giá cao su thế giới liên tục đảo chiều trong tháng 10, với những phiên tăng mạnh xen kẽ các đợt điều chỉnh. Đầu tháng, thị trường ghi nhận đà tăng đáng kể. Ngày 2/10, các hợp đồng cao su trên sàn SHFE tăng gần 6%, trong khi giá cao su TSR20 tại Singapore tăng hơn 3%.

Đà tăng tiếp tục xuất hiện sau kỳ nghỉ Quốc khánh Trung Quốc. Đến ngày 11/10, hợp đồng cao su tự nhiên tháng 11 trên SHFE đạt 20.170 CNY/tấn, còn hợp đồng TSR20 cùng kỳ hạn trên sàn SGX tăng lên 270,3 cent/kg. Tuy nhiên, thị trường nhanh chóng đảo chiều. Ngày 16/10, hợp đồng tháng 11 trên SHFE giảm về 18.890 CNY/tấn, trong khi SGX lùi xuống 252 cent/kg.

Sau giai đoạn biến động đan xen, áp lực giảm tiếp tục chiếm ưu thế trong những phiên cuối tháng. Ngày 30/10, hợp đồng cao su tháng 11/2026 trên SHFE còn 18.500 CNY/tấn, giảm 2,15%; SGX xuống 249,60 cent/kg, giảm 2,27%.

Theo dữ liệu cập nhật ngày 1/11, hợp đồng cao su tháng 11/2026 trên SHFE tiếp tục giảm về 18.385 CNY/tấn, giảm 1.785 CNY (-8,9%) so với mức ghi nhận ngày 11/10. Trên SGX, hợp đồng cao su TSR20 tháng 11/2026 cũng giảm về 247 cent/kg trong cùng khoảng thời gian đối chiếu.

Trong khi thị trường kỳ hạn biến động mạnh, giá thu mua mủ cao su tại các doanh nghiệp trong nước nhìn chung ổn định. Bình Long duy trì mức 540 đồng/độ TSC/kg tại nhà máy, Phú Riềng thu mua mủ nước ở mức 420 đồng/TSC và MangYang dao động 458-463 đồng/TSC.

Cao su là mặt hàng có nhiều nhịp đảo chiều trong tháng 10. Đà tăng đầu tháng không được duy trì, trong khi các sàn giao dịch lớn đồng loạt suy yếu vào cuối kỳ. Triển vọng tháng 11 tiếp tục phụ thuộc vào nhu cầu nguyên liệu, diễn biến giao dịch tại Trung Quốc và nguồn cung từ các nước sản xuất cao su lớn.

(Nguồn: Sở Giao dịch hàng hóa Việt Nam, Trung tâm Thông tin công nghiệp và thương mại, Thời báo Tài chính Việt Nam, Tạp chí Doanh nghiệp và Hội nhập)

(1 bushel lúa mỳ/đậu tương = 27,2 kg; 1 bushel ngô = 25,4 kg).

(USD Cent/lb | 1USD = 100cent | 1lb ~ 0,45Kg | Đơn vị giao dịch: lot, 1 lot = 10 tấn).

N.Tùng

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục