Thanh toán không thể là điểm nghẽn
Với một doanh nghiệp lưu trú, tiền mặt đồng nghĩa với thêm người phục vụ, kiểm đếm, quy đổi ngoại tệ, trả lại tiền thừa và đối soát. Thẻ thuận tiện hơn, nhưng vẫn có những loại thẻ không được chấp nhận, còn máy POS thì không thể mang đến từng phòng khi khách phát sinh nhu cầu thanh toán.
Đó là thực tế ông Ngô Xuân Bách, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty City House Việt Nam, chia sẻ tại phiên thảo luận trong Hội thảo “Thúc đẩy thanh toán xuyên biên giới qua mã QR: Động lực mới cho bán lẻ và du lịch” tổ chức chiều ngày 25/9.
Theo ông Bách, khách nước ngoài hiện chủ yếu thanh toán bằng thẻ và tiền mặt. Với tiền mặt, doanh nghiệp phải bố trí nhân viên trực tiếp giao dịch, kiểm đếm, quy đổi ngoại tệ, trả lại tiền thừa và thực hiện đối soát. Thẻ thuận tiện hơn nhưng chi phí giao dịch cao hơn, trong khi không phải loại thẻ nào cũng được chấp nhận. Với mô hình lưu trú, máy POS cũng không thể được mang đến từng phòng khi khách phát sinh nhu cầu thanh toán.
Trong khi đó, tại các cơ sở lưu trú, khách không chỉ đến để ngủ. Doanh nghiệp còn giới thiệu tour trải nghiệm, dịch vụ địa phương, đặc sản và những sản phẩm Việt Nam để khách mua về làm quà. Một khâu thanh toán thuận tiện hơn có thể quyết định việc một nhu cầu phát sinh có trở thành giao dịch hay không.
Từ thực tế này, ông Bách cho rằng QR xuyên biên giới không đơn thuần là thêm một phương thức thanh toán, mà có thể thay đổi cách doanh nghiệp vận hành và phục vụ khách quốc tế.
Câu chuyện của một doanh nghiệp lưu trú cũng cho thấy vì sao việc mở rộng mạng lưới chấp nhận VietQRGlobal đang trở thành vấn đề đáng chú ý. Theo ông Phạm Anh Tuấn, Vụ trưởng Vụ Thanh toán, Ngân hàng Nhà nước cho biết, VietQRGlobal không phải một phương thức thanh toán mới mà là một cấu phần của hệ thống thanh toán số Việt Nam, đồng thời là thương hiệu nhận diện để du khách quốc tế biết đâu là điểm chấp nhận giao dịch thanh toán xuyên biên giới.
| |
Ông Phạm Anh Tuấn, Vụ trưởng Vụ Thanh toán, Ngân hàng Nhà nước trao đổi tại Sự kiện |
Lợi thế của Việt Nam là các điểm bán đã có sẵn nền tảng QR nội địa. Việc bổ sung khả năng chấp nhận giao dịch xuyên biên giới vì thế không đòi hỏi một cuộc đầu tư lại từ đầu. Chi phí cài đặt, chuyển đổi thấp, trong khi hộ kinh doanh, tiểu thương có thêm cơ hội tiếp cận khách quốc tế.
Nhưng độ phủ vẫn là khoảng trống lớn. Theo ông Tuấn, cả nước hiện có hơn 2,5 triệu đơn vị chấp nhận thanh toán nội địa, trong khi số đơn vị chấp nhận VietQRGlobal mới khoảng 154.000. Khoảng cách này cho thấy, kết nối được mới chỉ là bước đầu; đưa VietQRGlobal đến đúng điểm bán và để người bán thấy rõ lợi ích mới là phần việc tiếp theo.
Ông Nguyễn Đăng Hùng, Phó tổng giám đốc NAPAS, cho rằng một trong những ưu thế của QR là chi phí triển khai thấp. Một mã QR có thể được in trên biển hiệu, tờ giấy hoặc đặt ngay tại điểm bán. Không cần đầu tư một thiết bị riêng như với nhiều hình thức thanh toán truyền thống.
Nhưng mã QR chỉ thực sự có giá trị với người bán khi nó đi cùng hoạt động kinh doanh. Theo ông Hùng, mã QR có thể tích hợp vào phần mềm quản lý bán hàng để quản lý doanh thu, hỗ trợ hoàn trả, tra soát, khiếu nại và đối soát.
Nói cách khác, câu chuyện không chỉ là làm sao để khách quét được mã. Quan trọng hơn là sau khi khách quét, người bán phải nhận được tiền, biết giao dịch nào đã hoàn tất và quản lý được dòng tiền đó.
Không chỉ nhận tiền, phải bán được hàng
Đây cũng là góc nhìn từ phía các điểm bán được ông Ngô Trung Dũng, Phó Giám đốc kinh doanh KiotViet, chia sẻ. Theo ông Dũng, thanh toán là bước cuối cùng để hoàn tất một giao dịch, một đơn hàng. Vì thế, mã QR phải giúp người bán bán hàng, nhận đúng tiền và quản lý được giao dịch.
| |
Ông Ngô Trung Dũng, Phó Giám đốc kinh doanh KiotViet chia sẻ tại phiên Thảo luận |
Điều này đặc biệt quan trọng với cửa hàng nhỏ, hộ kinh doanh, điểm bán đặc sản và những khu vực phục vụ nhiều khách du lịch - những nơi không phải lúc nào cũng có điều kiện đầu tư thêm thiết bị hay một hệ thống thanh toán phức tạp.
Nếu khách quốc tế có thể sử dụng ứng dụng quen thuộc để quét mã, còn người bán vẫn sử dụng hệ thống quản lý hiện có, rào cản gia nhập sẽ thấp hơn. Khi giao dịch được gắn với đơn hàng, tự động cập nhật trạng thái thanh toán và hỗ trợ đối soát cuối ngày, QR có thể trở thành một phần của hoạt động bán hàng.
Ở phía người mua, ông Nguyễn Đăng Hùng gọi trải nghiệm này là “Pay like a local” - thanh toán như người bản địa. Người Việt đã quen sử dụng ứng dụng ngân hàng để quét QR trong nước thì khi ra nước ngoài vẫn có thể sử dụng cách thức quen thuộc. Du khách quốc tế đến Việt Nam cũng có thể dùng ứng dụng của mình để thanh toán tại những điểm chấp nhận VietQRGlobal.
Theo ông Hùng, sự thuận tiện không chỉ nằm ở thao tác quét mã. Khách cũng biết tỷ giá và số tiền bị trừ ngay sau giao dịch, thay vì phải tự tính toán hoặc chờ đối chiếu sau đó.
Với doanh nghiệp, lợi ích cũng không dừng ở việc giảm thao tác thu tiền. Trường hợp của City House cho thấy khách lưu trú còn được giới thiệu các tour trải nghiệm, dịch vụ địa phương, đặc sản và sản phẩm Việt Nam. Khi phương thức thanh toán thuận tiện hơn, những nhu cầu này có thêm điều kiện để trở thành giao dịch.
Từ góc nhìn thương mại, ông Bùi Nguyễn Anh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước, Bộ Công thương, gọi thanh toán xuyên biên giới là một “hạ tầng mềm” quan trọng của thương mại.
Theo ông, một giao dịch xuyên biên giới chỉ thực sự liền mạch khi hàng hóa, thông tin logistics và thanh toán được kết nối. Thanh toán không tạo ra hàng hóa, nhưng quyết định liệu một nhu cầu có chuyển thành giao dịch hay không. Nếu khâu thanh toán bất tiện, chi phí cao hoặc không quen thuộc, giao dịch có thể dừng ở bước cuối cùng.
Bởi vậy, theo ông Tuấn, mã QR không nên kết thúc ở việc thanh toán thành công. Phía sau giao dịch còn có đơn hàng, hóa đơn, quản lý tồn kho, chương trình khách hàng thân thiết, khuyến mại và dữ liệu phục vụ quản trị. Khi các mắt xích này được kết nối, doanh nghiệp không chỉ số hóa giao dịch mà còn số hóa hoạt động bán lẻ.
| |
Ông Nguyễn Đăng Hùng, Phó tổng giám đốc NAPAS |
Để làm được điều đó trên diện rộng, ông Hùng cho biết NAPAS xác định ba vấn đề cần tiếp tục xử lý: chi phí, độ phủ điểm chấp nhận và nhận diện thương hiệu.
Theo ông, hiệu quả của thanh toán xuyên biên giới không chỉ nằm ở số mã QR được đặt xuống hay số quốc gia đã kết nối, mà còn ở số điểm bán thực sự sử dụng, số du khách thực sự giao dịch và số nhu cầu mua sắm được chuyển thành doanh thu.
Với doanh nghiệp lưu trú, thanh toán thuận tiện hơn có thể gắn với những giao dịch phát sinh trong quá trình khách sử dụng dịch vụ, từ tour trải nghiệm, dịch vụ địa phương đến các sản phẩm Việt Nam được mua làm quà. Khi đó, QR không chỉ là công cụ thu tiền mà trở thành một phần trong trải nghiệm giao dịch của khách quốc tế.