Thanh khoản ngân hàng trước ngã rẽ 2026

(ĐTCK) Năm 2025, hệ thống ngân hàng Việt Nam trải qua giai đoạn căng thẳng thanh khoản vào thời điểm cuối năm. Ông Nguyễn Hoàng Linh, Giám đốc Phân tích và Nghiên cứu, Công ty Quản lý quỹ Vietcombank (VCBF) lý giải nguyên nhân và chỉ ra những động lực hỗ trợ thanh khoản trong năm 2026.
Ông Nguyễn Hoàng Linh, Giám đốc Phân tích và Nghiên cứu, Công ty Quản lý quỹ Vietcombank (VCBF)

Ông có thể phác họa bức tranh chung về diễn biến thanh khoản của hệ thống ngân hàng trong năm vừa qua?

Trong nửa đầu năm, thanh khoản hệ thống duy trì ở trạng thái tương đối ổn định, với lãi suất qua đêm trên thị trường liên ngân hàng dao động quanh mức 4%/năm. Tuy nhiên, bức tranh bắt đầu thay đổi từ cuối tháng 6, khi thanh khoản có dấu hiệu suy giảm, qua đó tạo áp lực đẩy mặt bằng lãi suất liên ngân hàng đi lên.

Sang quý IV, diễn biến trở nên phức tạp hơn. Bắt đầu từ giữa tháng 10, áp lực thanh khoản gia tăng đáng kể, khiến lãi suất qua đêm liên ngân hàng thường xuyên duy trì trên mức 6%/năm, thậm chí có những thời điểm chạm ngưỡng 7,5%/năm trong tháng 12 - mức cao tương đương giai đoạn thiếu hụt thanh khoản trầm trọng vào quý IV/2022.

Căng thẳng thanh khoản trên thị trường liên ngân hàng đã buộc nhiều ngân hàng phải tăng lãi suất tiền gửi từ cuối tháng 9 nhằm huy động nguồn vốn đáp ứng nhu cầu tín dụng đang gia tăng nhanh. Nhận diện được diễn biến này, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã tăng cường can thiệp thông qua việc liên tục bơm ròng qua kênh nghiệp vụ thị trường mở (OMO), đưa số dư OMO lưu hành lên mức kỷ lục hơn 400.000 tỷ đồng tại thời điểm 31/12/2025.

Theo ông, đâu là những nguyên nhân cốt lõi dẫn đến áp lực thanh khoản của hệ thống ngân hàng trong năm 2025?

Có nhiều yếu tố góp phần tạo áp lực lên thanh khoản hệ thống trong năm 2025, tuy nhiên, theo tôi, hai nguyên nhân sau đây là nổi bật nhất.

Thứ nhất, môi trường vĩ mô đã ảnh hưởng rõ nét đến hành vi của người gửi tiền. Lãi suất huy động trong 9 tháng đầu năm duy trì ở mức thấp, khiến người gửi tiền có xu hướng tìm kiếm các kênh đầu tư thay thế mang lại lợi nhuận cao hơn, trong đó có vàng - một kênh đầu tư truyền thống tại Việt Nam.

Bên cạnh đó, bối cảnh vĩ mô toàn cầu biến động khi căng thẳng thương mại leo thang do chính sách thuế quan đối ứng của Mỹ, cùng với các xung đột địa chính trị tiếp tục diễn biến phức tạp, đã thúc đẩy tâm lý trú ẩn an toàn. Điều này làm gia tăng nhu cầu nắm giữ các tài sản vật chất như vàng và USD - một thực trạng phổ biến tại nhiều quốc gia, không chỉ riêng Việt Nam.

Khi dòng vốn chảy mạnh vào vàng trong bối cảnh giá vàng trong nước cao hơn đáng kể so với giá vàng thế giới, hoạt động găm giữ ngoại tệ để nhập khẩu vàng theo con đường không chính thức có xu hướng gia tăng. Việc “chảy máu” ngoại tệ này không chỉ gây căng thẳng cho thị trường ngoại hối, mà còn tạo áp lực lên thanh khoản hệ thống theo cơ chế kép: một mặt, tiền gửi bị rút khỏi ngân hàng để mua vàng; mặt khác, nguồn cung ngoại tệ suy giảm gây áp lực lên tỷ giá, có thể buộc NHNN phải can thiệp bằng dự trữ ngoại hối, từ đó thu hẹp thanh khoản tiền đồng trong hệ thống.

Nguyên nhân thứ hai đến từ thặng dư ngân sách tạm thời, qua đó hút bớt thanh khoản khỏi hệ thống. Năm 2025 ghi nhận kết quả thu ngân sách rất ấn tượng, với giá trị ước đạt khoảng 2,65 triệu tỷ đồng, tăng 30% so với năm 2024 và đạt 135% dự toán năm. Trong khi đó, tại thời điểm cuối tháng 12, chi ngân sách mới hoàn thành 93% dự toán, dẫn đến thặng dư ngân sách tạm thời lên tới gần 250.000 tỷ đồng.

Nguyên nhân chủ yếu nằm ở tiến độ giải ngân đầu tư công chưa đạt kỳ vọng. Đến hết tháng 11, giải ngân đầu tư công mới hoàn thành 60,6% kế hoạch. Mặc dù đầu tư công đã tăng tốc trong tháng 12 khi nhiều địa phương và bộ, ngành nỗ lực hoàn thành chỉ tiêu, song giá trị giải ngân lũy kế cả năm 2025 cũng mới đạt 82,7% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao. Nỗ lực giải ngân để hoàn thành kế hoạch đầu tư năm 2025 tiếp tục diễn ra trong tháng 1/2026.

Theo đó, do luôn phải chuẩn bị sẵn sàng nguồn chi cho đầu tư công, Kho bạc Nhà nước không tăng tiền gửi có kỳ hạn tại các ngân hàng thương mại, qua đó phần nào làm giảm thanh khoản của hệ thống.

Hai nguyên nhân trên đã tác động mạnh mẽ đến tổng lượng tiền gửi của toàn hệ thống. Theo dữ liệu cập nhật về tổng phương tiện thanh toán từ Ngân hàng Nhà nước, tổng tiền gửi của khu vực dân cư và doanh nghiệp tại thời điểm cuối tháng 9/2025 chỉ tăng 9,8% so với cuối năm 2024 - thấp hơn đáng kể so với mức tăng 13,9% của tín dụng. Trong khi đó, lượng tiền mặt lưu thông ngoài hệ thống lại tăng mạnh, ước đạt gần 2 triệu tỷ đồng vào cuối tháng 9/2025, so với hơn 1,6 triệu tỷ đồng vào cuối năm 2024. Điều này đồng nghĩa khoảng 300.000 tỷ đồng đã bị rút ra khỏi hệ thống ngân hàng thương mại. Những con số này phần nào phản ánh rõ áp lực thanh khoản mà hệ thống ngân hàng đã phải đối mặt trong thời gian qua.

Sau khi vượt qua cao điểm căng thẳng thanh khoản vào tháng 12/2025, theo ông, cấu trúc thanh khoản đã thực sự ổn định hơn?

Theo tôi, các yếu tố hỗ trợ thanh khoản trong năm 2026 cũng như trong trung và dài hạn đến từ hai động lực chính: cải thiện giải ngân đầu tư công và cải thiện cán cân thanh toán quốc tế.

Trước hết, một phần áp lực thanh khoản trong thời gian qua xuất phát từ tác động mang tính tạm thời của dòng tiền Kho bạc Nhà nước. Tuy nhiên, đây cũng là yếu tố có khả năng đảo chiều tương đối nhanh khi tốc độ giải ngân đầu tư công được đẩy mạnh nhờ chỉ đạo quyết liệt từ Thủ tướng Chính phủ.

Do kỳ giải ngân vốn đầu tư công của năm trước được tính đến hết tháng 1 năm sau, tốc độ giải ngân tiếp tục được thúc đẩy trong tháng đầu tiên của năm 2026. Điều này đồng nghĩa với việc một lượng lớn tiền của Kho bạc Nhà nước sẽ quay trở lại hệ thống ngân hàng thương mại thông qua thanh toán cho các đơn vị cung ứng vật tư và các nhà thầu xây dựng.

Căn cứ vào giá trị giải ngân lũy kế đến tháng 12/2025, ước tính còn hơn 158.000 tỷ đồng vốn kế hoạch cả năm chờ được giải ngân trong tháng 1/2026. Nếu phần lớn số vốn này được thực hiện, thanh khoản hệ thống chắc chắn sẽ được hỗ trợ đáng kể. Thực tế diễn biến gần đây đã phần nào cho thấy điều đó. Thanh khoản hệ thống ngân hàng đã cải thiện rõ rệt, thể hiện qua việc lãi suất qua đêm liên ngân hàng giảm mạnh trong tháng 1/2026 và hiện dao động quanh mức 4%/năm. Đáng chú ý, sự cải thiện này diễn ra bất chấp việc NHNN đã hút ròng 94.000 tỷ đồng qua kênh OMO trong nửa đầu tháng 1, cho thấy nguồn cung thanh khoản từ Kho bạc Nhà nước thông qua giải ngân đầu tư công đủ mạnh để bù đắp lượng vốn bị thu hồi qua OMO.

Ngoài yếu tố giải ngân đầu tư công mang tính thời điểm, đâu là những động lực có thể hỗ trợ thanh khoản một cách bền vững hơn trong trung và dài hạn?

Nhìn xa hơn trong trung và dài hạn, với những cải cách mạnh mẽ về thủ tục hành chính và hệ thống pháp lý trong thời gian gần đây, các rào cản đối với giải ngân đầu tư công được kỳ vọng sẽ từng bước được tháo gỡ. Điều này giúp dòng tiền giải ngân từ Kho bạc Nhà nước diễn ra nhanh hơn, đều đặn và liên tục trong suốt cả năm, thay vì tập trung vào một vài tháng cuối năm như trước đây. Khi tiến độ giải ngân trở nên ổn định hơn, áp lực thanh khoản mang tính tạm thời do gián đoạn dòng tiền từ Kho bạc Nhà nước sẽ được giảm thiểu, qua đó góp phần tạo lập môi trường thanh khoản ổn định và dễ dự báo hơn cho hệ thống ngân hàng.

Bên cạnh đó, thương mại quốc tế dần ổn định khi rủi ro từ sự bất định trong chính sách thương mại của Mỹ suy giảm sẽ tiếp tục hỗ trợ cho xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam - nguồn cung ngoại tệ quan trọng nhất của nền kinh tế. Thực tế cho thấy, khi mức thuế đối ứng áp dụng cho Việt Nam giảm từ 46% xuống 20%, xuất khẩu hàng hóa đã tăng tốc trong nửa sau năm 2025, qua đó giúp thặng dư thương mại hàng hóa trong hai quý cuối năm đạt 12,4 tỷ USD, so với mức 7,7 tỷ USD trong nửa đầu năm.

Về dài hạn, với lợi thế nền tảng về nguồn lao động, hạ tầng ngày càng được cải thiện, mức độ hội nhập sâu của hoạt động sản xuất vào chuỗi cung ứng khu vực và đặc biệt là môi trường chính trị - xã hội ổn định, Việt Nam sẽ tiếp tục giữ vị thế là điểm đến ưu tiên trong chiến lược đa dạng hóa chuỗi cung ứng toàn cầu. Qua đó, xuất khẩu và thu hút dòng vốn FDI - hai nguồn cung ngoại tệ chủ lực - sẽ tiếp tục được củng cố trong trung và dài hạn.

Một nguồn cung ngoại tệ quan trọng khác được kỳ vọng duy trì tăng trưởng tích cực là du lịch. Trong năm 2025, Việt Nam đón hơn 21 triệu lượt khách quốc tế, mang lại doanh thu ngoại tệ khoảng 15,2 tỷ USD, tăng hơn 24% so với năm 2024. Đáng chú ý, lượng khách từ Trung Quốc và châu Âu tăng mạnh, một phần nhờ Việt Nam giành thêm thị phần từ các quốc gia trong khu vực như Thái Lan, nhờ lợi thế là điểm đến an toàn, không chịu tác động từ xung đột địa chính trị, cùng với chính sách visa thông thoáng hơn và chất lượng dịch vụ ngày càng được cải thiện.

Đối với dòng vốn tài chính, Việt Nam đang ghi nhận những tiến triển tích cực nhờ nỗ lực cải cách sâu rộng thị trường vốn nhằm hướng tới mục tiêu nâng hạng thị trường chứng khoán. Quá trình này được kỳ vọng sẽ giúp thu hút dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trong thời gian tới. Song song đó, các cải cách trong hệ thống tài chính cũng có thể giúp Việt Nam tiến gần hơn tới mức xếp hạng tín nhiệm “đầu tư” (BBB- trở lên), trong khi hiện nay Việt Nam đang ở mức BB+, tức chỉ còn cách một bậc. Khi đạt được mức xếp hạng này, Việt Nam sẽ thuận lợi hơn trong việc tiếp cận thị trường nợ quốc tế với chi phí vốn thấp hơn đáng kể - yếu tố đặc biệt quan trọng trong bối cảnh nhu cầu vốn cho phát triển trong những năm tới là rất lớn và không thể chỉ dựa vào nguồn vốn trong nước.

Cuối cùng, môi trường đầu tư được cải thiện cùng với chính sách cởi mở và thủ tục hành chính được đơn giản hóa cũng sẽ giúp thu hút dòng kiều hối tốt hơn - một nguồn cung ngoại tệ quan trọng và ổn định của Việt Nam trong nhiều năm qua (đạt hơn 17 tỷ USD trong năm 2024 và có thể lên tới 20 tỷ USD trong năm 2025).

Tổng hòa các yếu tố trên sẽ góp phần gia tăng nguồn cung ngoại tệ cho nền kinh tế, tạo điều kiện để NHNN mua vào ngoại tệ và gia tăng dự trữ ngoại hối. Khi đó, cung tiền đồng được mở rộng, giúp cải thiện thanh khoản hệ thống mà không gây áp lực lên tỷ giá. Môi trường thanh khoản dồi dào, kết hợp với tỷ giá ổn định, sẽ tạo điều kiện thuận lợi để lãi suất cho vay duy trì ở mức hợp lý, qua đó hỗ trợ hoạt động đầu tư và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững trong dài hạn.

Hồng Dung thực hiện.

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục