Thận trọng trước áp lực thanh khoản, lãi suất

(ĐTCK) Mục tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2026 được điều chỉnh về mức 15%, phản ánh thông điệp thận trọng hơn của nhà điều hành khi trọng tâm chính sách dịch chuyển sang ổn định kinh tế vĩ mô và đảm bảo các cân đối lớn.
Tiền đang được rút dần khỏi hệ thống ngân hàng

“Rút van” OMO, lãi suất liên ngân hàng lùi sâu

Diễn biến trên thị trường tiền tệ đầu năm 2026 cho thấy thanh khoản hệ thống đang dần được kiểm soát, song áp lực lãi suất và rủi ro tín dụng vẫn hiện hữu khi nhu cầu vốn gia tăng và môi trường vĩ mô còn nhiều bất định. Sự thận trọng này thể hiện rõ nét trước hết qua cách thức điều hành trên thị trường mở (OMO).

Quả vậy, trong tuần từ ngày 12-16/1, diễn biến trên OMO cho thấy Ngân hàng Nhà nước tiếp tục điều hành theo hướng hút ròng thanh khoản, dù quy mô bơm - hút có sự đan xen nhịp nhàng giữa các phiên. Theo đó, có 16.417 tỷ đồng trúng thầu ở các kỳ hạn 7, 14, 28, 56 và 91 ngày, với lãi suất 4,5%/năm. Ở chiều ngược lại, có tới 46.315,23 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố, kéo lượng vốn OMO lưu hành giảm xuống còn 315.048,49 tỷ đồng, thấp hơn đáng kể so với mức hơn 410.000 tỷ đồng ghi nhận vào ngày 31/12/2025.

Tính chung, Ngân hàng Nhà nước đã hút ròng 29.899 tỷ đồng, tiếp nối nhịp hút mạnh 40.167,94 tỷ đồng của tuần trước đó, cho thấy nhà điều hành đang ưu tiên kiểm soát thanh khoản trong trạng thái thận trọng. Kết quả đấu thầu trong tuần phản ánh cách thức điều hành linh hoạt nhưng chặt chẽ, với quy mô bơm thanh khoản duy trì ở mức khiêm tốn, chỉ khoảng 2.000 - 4.000 tỷ đồng mỗi phiên. Trong khi đó, khối lượng đáo hạn duy trì ở mức rất cao, vượt xa lượng bơm mới trong phần lớn các phiên. Riêng phiên 12/1, lượng đáo hạn lên tới gần 19.800 tỷ đồng, tạo áp lực hút tiền rõ rệt khỏi hệ thống ngân hàng.

Diễn biến hút ròng trên OMO nhanh chóng lan tỏa sang thị trường liên ngân hàng, thể hiện qua sự điều chỉnh của mặt bằng lãi suất các kỳ hạn. Cụ thể, lãi suất qua đêm tăng từ 3,16%/năm vào cuối tuần trước nữa lên quanh mức 4,17%/năm, tương ứng mức tăng 1,01 điểm phần trăm, cho thấy nhu cầu vốn ngắn hạn gia tăng rõ rệt. Kỳ hạn 1 tuần tăng lên 4,83%/năm, cao hơn 0,65 điểm phần trăm; kỳ hạn 2 tuần tiếp tục duy trì đà tăng lên 5,17%/năm, vượt mốc 5%/năm. Ở các kỳ hạn dài hơn, mức độ biến động cũng mạnh hơn khi lãi suất 1 tháng vọt lên 6,45%/năm, tăng khoảng 0,15 điểm phần trăm, trong khi kỳ hạn 3 tháng tăng lên 7,23%/năm, cao hơn 0,18 điểm phần trăm.

Đánh giá về diễn biến này, theo nhóm phân tích Công ty TNHH Chứng khoán Yuanta Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước chủ động rút bớt thanh khoản sau giai đoạn bơm mạnh cuối năm 2025, trong khi lãi suất đã có xu hướng giảm dần từ đầu đến cuối tuần trước, khi nhu cầu vốn mùa vụ cuối năm đi qua.

“Lãi suất liên ngân hàng đang giảm về mức ngang giai đoạn cuối tháng 9/2025, chúng tôi kỳ vọng đà giảm này tiếp tục duy trì trong thời gian tới và thanh khoản hệ thống ngân hàng đang dần ổn định trở lại”, Chứng khoán Yuanta nhận định.

Cùng quan điểm, Công ty cổ phần Chứng khoán Vietcap dự báo nhu cầu thanh khoản sẽ hạ nhiệt vào đầu tháng 1/2026 sau khi áp lực cuối năm 2025 tạm lắng, tạo điều kiện cho lãi suất liên ngân hàng điều chỉnh giảm. Song, lãi suất vẫn có thể duy trì ở mức cao do nhu cầu thanh khoản thường tăng trước Tết Nguyên đán.

Tín dụng tăng chậm lại, rủi ro vẫn hiện hữu

Trong tuần từ ngày 12 - 16/1/2026, Ngân hàng Nhà nước đã hút ròng 29.899 tỷ đồng, tiếp nối nhịp hút mạnh 40.167,94 tỷ đồng của tuần trước đó, cho thấy nhà điều hành đang ưu tiên kiểm soát thanh khoản trong trạng thái thận trọng.

Thanh khoản ngắn hạn có dấu hiệu ổn định hơn, song bức tranh trung hạn vẫn đặt ra không ít thách thức. Kết quả cuộc điều tra xu hướng tín dụng do Ngân hàng Nhà nước thực hiện mới đây cho thấy, dù nhu cầu tín dụng được kỳ vọng tăng ở hầu hết các lĩnh vực trong năm 2026, rủi ro tín dụng vẫn tập trung cao nhất ở hoạt động đầu tư, kinh doanh bất động sản và được dự báo duy trì đến hết năm. Trái với xu hướng giảm nhẹ trong 6 tháng đầu năm 2025, các tổ chức tín dụng cho biết, rủi ro tín dụng đã “tăng nhẹ” trong 6 tháng cuối năm 2025 và xu hướng này có thể tiếp diễn trong năm 2026, đặc biệt tại các lĩnh vực bất động sản, chứng khoán và xuất nhập khẩu.

Trong 6 tháng đầu năm và cả năm 2026, các tổ chức tín dụng kỳ vọng nhu cầu tín dụng sẽ tăng đối với tất cả các lĩnh vực, đối tượng, loại tiền và kỳ hạn, trong đó nhu cầu vay của khách hàng doanh nghiệp được dự báo tăng cao hơn so với khách hàng cá nhân. Nhu cầu vay ngắn hạn tiếp tục tăng mạnh hơn so với vay trung - dài hạn, trong khi nhu cầu vay bằng VND cao hơn vay ngoại tệ. Xét theo ngành, lĩnh vực công nghiệp và xây dựng tiếp tục dẫn đầu về mức độ gia tăng nhu cầu vay vốn, theo sau là thương mại - dịch vụ, tiêu dùng, lĩnh vực xanh, nông - lâm - thủy sản và đầu tư ứng dụng công nghệ cao.

Ở chiều ngược lại, khả năng đáp ứng vốn của hệ thống ngân hàng được đánh giá tương đối tích cực trong ngắn hạn. Trong 6 tháng cuối năm 2025, có tới 87% tổ chức tín dụng cho biết đã đáp ứng từ 75% nhu cầu vay vốn của khách hàng trở lên; riêng các ngân hàng thương mại trọng yếu, tỷ lệ này đạt 100%. Phần lớn các tổ chức tín dụng duy trì hoặc nới lỏng nhẹ tiêu chuẩn tín dụng, xu hướng được dự báo tiếp tục duy trì trong năm 2026, tập trung vào nhóm khách hàng doanh nghiệp và các lĩnh vực ưu tiên. Đối với khách hàng cá nhân, các tổ chức tín dụng dự kiến nới lỏng trở lại điều kiện cho vay trong 6 tháng đầu năm 2026.

Từ góc nhìn điều hành, áp lực thanh khoản và lãi suất vẫn là bài toán không thể xem nhẹ trong năm 2026. Theo một lãnh đạo cao cấp BIDV, trong bối cảnh rủi ro thanh khoản tiếp tục tích lũy từ giai đoạn cuối năm trước, áp lực đối với lãi suất VND dự kiến gia tăng trong năm nay, đặc biệt trong nửa đầu năm, do sự cộng hưởng của nhiều yếu tố. Trước hết, nền tảng thanh khoản VND của toàn hệ thống vốn kém bền vững, có thể tiếp tục suy giảm khi nhu cầu nắm giữ tiền mặt tăng lên và dòng tiền tiếp tục hút về Kho bạc Nhà nước qua kênh thu ngân sách.

“Sự phụ thuộc lớn vào các kênh hỗ trợ của cơ quan quản lý cũng khiến thanh khoản có thể xuất hiện những đợt căng thẳng cục bộ khi các dòng tiền bổ sung bị gián đoạn. Trong khi đó, dù tăng trưởng tín dụng có thể chậm lại so với năm 2025, nhưng dự kiến vẫn cao hơn tăng trưởng huy động vốn khoảng 1 - 2%”, vị lãnh đạo BIDV nói.

Trong bối cảnh đó, định hướng chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước đang phát đi tín hiệu rõ ràng hơn về sự thận trọng. Đáng chú ý, chính sách tiền tệ của nhà điều hành đang dịch chuyển trọng tâm sang ổn định kinh tế vĩ mô và đảm bảo các cân đối lớn. Mục tiêu tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống năm 2026 được điều chỉnh về mức thấp hơn, khoảng 15% so với mức 18% của năm 2025, trong đó dòng vốn được định hướng tập trung nhiều hơn vào sản xuất - kinh doanh. Ngân hàng Nhà nước được kỳ vọng tiếp tục giữ ổn định các mức lãi suất điều hành, đồng thời điều tiết linh hoạt các công cụ OMO và hoán đổi ngoại tệ để hỗ trợ thanh khoản, tránh tạo áp lực lên tỷ giá và lạm phát.

“Tuy nhiên, chúng tôi cũng kỳ vọng đà tăng của lãi suất có thể chậm lại trong nửa cuối năm nay khi các tín hiệu hỗ trợ rõ nét hơn xuất hiện như giải ngân đầu tư công sôi động hơn, nguồn cung ngoại tệ cải thiện hay các chính sách kiểm soát thị trường phi chính thức, giúp dòng vốn quay trở lại hệ thống ngân hàng”, vị lãnh đạo BIDV nói và chia sẻ thêm, theo đó, mặt bằng lãi suất huy động trên thị trường 1 có thể tăng thêm khoảng 0,5%/năm, trong khi lãi suất liên ngân hàng bình quân tăng khoảng 0,5-1%/năm, với biên độ dao động rộng hơn ở các kỳ hạn ngắn.

Ở tầm nhìn chính sách dài hạn, yêu cầu kiên định ổn định vĩ mô tiếp tục được đặt lên hàng đầu. TS. Cấn Văn Lực, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính - tiền tệ Quốc gia cho rằng, chính sách tài khóa cần giữ vai trò chủ lực, chính sách tiền tệ đóng vai trò bổ trợ, phối hợp hài hòa nhằm thúc đẩy tăng trưởng và kiểm soát lạm phát. Theo đó, tăng trưởng tín dụng chỉ nên duy trì ở mức vừa phải 15 - 16%, gắn với nâng cao hiệu quả phân bổ vốn, mở rộng tín dụng xanh và phát triển cân bằng các kênh dẫn vốn của thị trường tài chính.

Nhuệ Mẫn

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục