Tây Ninh mở rộng dư địa phát triển công nghiệp

Không gian phát triển rộng hơn, quỹ đất lớn và lợi thế kết nối đang tạo thêm dư địa cho Tây Ninh thu hút đầu tư công nghiệp. Song, cuộc cạnh tranh không chỉ nằm ở diện tích đất sẵn có. Nhà đầu tư ngày càng đặt yêu cầu cao hơn về hạ tầng, chi phí vận chuyển và khả năng liên kết chuỗi.
Cao tốc Bến Lức - Long Thành đang dần hoàn thiện, mở thêm trục kết nối Tây Ninh với TP.HCM, Đồng Nai và các đầu mối logistics phía Nam (Ảnh: Lê Toàn)

Quỹ đất dồi dào, chi phí cạnh tranh

Nếu trước đây, bản đồ bất động sản công nghiệp phía Nam chủ yếu xoay quanh TP.HCM, Đồng Nai hay Bình Dương, thì sự thay đổi về không gian phát triển đang đưa dòng vốn sản xuất đi xa hơn. Tây Ninh, sau hợp nhất với Long An, có thêm dư địa để định vị mình trên bản đồ công nghiệp mới của khu vực.

Tây Ninh mới có diện tích tự nhiên hơn 8.536 km2, dân số hơn 3,25 triệu người, tiếp giáp TP.HCM, Đồng Nai, Đồng Tháp và Campuchia. Không gian rộng hơn cũng tạo điều kiện tổ chức lại các vùng sản xuất, kết nối khu công nghiệp với cửa khẩu, hệ thống giao thông và các đầu mối logistics.

Theo quy hoạch tỉnh Tây Ninh thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 sau điều chỉnh, tỉnh định hướng phát triển công nghiệp theo hướng hiện đại, xanh, thông minh, gắn với đổi mới sáng tạo và nâng cao hiệu quả các khu công nghiệp hiện hữu. Các lĩnh vực được ưu tiên gồm chế biến, chế tạo, năng lượng sạch, công nghiệp hỗ trợ, công nghệ cao và những ngành có giá trị gia tăng lớn.

Điều mà Tây Ninh hướng tới là biến lợi thế vị trí thành lợi thế cạnh tranh; biến năng lực sản xuất thành năng lực xuất khẩu; và biến mỗi kết nối hôm nay thành những giá trị kinh tế cụ thể trong tương lai

- Ông Lê Văn Hẳn, Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh

Theo kế hoạch thực hiện quy hoạch, đến năm 2030, tỉnh phấn đấu có 52 khu công nghiệp đi vào hoạt động với diện tích khoảng 16.466,8 ha; về dài hạn, hệ thống khu công nghiệp theo quy hoạch có tổng diện tích khoảng 46.495 ha. Các khu công nghiệp được tổ chức gắn với những hành lang kinh tế và trục giao thông quan trọng như Vành đai 3, Vành đai 4 TP.HCM, cao tốc TP.HCM - Mộc Bài, cao tốc Bắc - Nam phía Tây và tuyến Bàu Bàng - Mộc Bài.

Nhưng với nhà đầu tư, quỹ đất lớn mới chỉ là điểm bắt đầu. Câu hỏi quan trọng hơn là vị trí đó có thể giúp doanh nghiệp tiết giảm bao nhiêu chi phí và mất bao lâu để đưa nhà máy vào vận hành.

Thực tế tại các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn cho thấy lợi thế vị trí và kết nối ngày càng được đưa vào bài toán cạnh tranh. Đơn cử, tại Cụm công nghiệp Thiên Lộc Thành, sau khi hoàn tất các thủ tục, chủ đầu tư nhanh chóng triển khai hạ tầng để đưa cụm công nghiệp vào hoạt động và thu hút nhà đầu tư thứ cấp. Đến nay, hạ tầng cơ bản hoàn thiện, tỷ lệ lấp đầy đạt gần 100%.

Theo bà Nguyễn Trung Yến Trinh, đại diện Ban quản lý Cụm công nghiệp Thiên Lộc Thành, bên cạnh môi trường đầu tư và chính sách thu hút của địa phương, vị trí giao thông cùng khả năng kết hợp vận tải thủy - bộ là yếu tố tạo khác biệt về chi phí và thời gian vận chuyển cho doanh nghiệp.

“Với môi trường đầu tư hấp dẫn của tỉnh, chính sách thu hút cùng sự đồng hành của chính quyền địa phương trong hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, chúng tôi tập trung hoàn thiện hạ tầng để nhanh chóng thu hút doanh nghiệp về hoạt động”, bà Trinh chia sẻ.

Một trong những doanh nghiệp đang hoạt động tại đây là Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Thép Tây Nam, với nhà máy có diện tích khoảng 15 ha, công suất thiết kế 1,5 triệu tấn/năm. Doanh nghiệp đầu tư dây chuyền sản xuất hiện đại nhập khẩu từ châu Âu, đáp ứng các yêu cầu của thị trường châu Âu và châu Mỹ.

Cùng với năng lực sản xuất, doanh nghiệp chú trọng hệ thống quản lý chất lượng và các tiêu chuẩn về giảm phát thải khí nhà kính, hướng tới việc vừa mở rộng sản xuất, vừa đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của thị trường xuất khẩu.

Từ góc độ nghiên cứu thị trường, bà Chương Quốc Đoan, Phó giám đốc Bộ phận Cho thuê công nghiệp và Văn phòng, Cushman & Wakefield Việt Nam chia sẻ, thị trường công nghiệp phía Nam đang bước vào giai đoạn tái cấu trúc không gian tăng trưởng. Trong đó, Tây Ninh có lợi thế về giá đất và quỹ đất, còn TP.HCM và Đồng Nai phù hợp hơn với các doanh nghiệp ưu tiên vị trí, khả năng tiếp cận thị trường và hệ thống logistics đang phát triển.

Logistics cần đi trước

Với Tây Ninh, câu chuyện phía trước không chỉ là lấp đầy thêm những khu công nghiệp hiện có, mà còn là làm thế nào để quỹ đất lớn trở thành nền tảng thu hút dòng vốn chất lượng cao hơn, gắn với công nghệ, công nghiệp hỗ trợ, sản xuất xanh và chuỗi cung ứng xuất khẩu.

Ông Võ Quốc Huy, Chủ tịch HĐQT Cảng Quốc tế Long An cho biết, Tây Ninh có hơn 369 km đường biên giới với Campuchia, 4 cửa khẩu quốc tế, cùng hệ thống 51 khu công nghiệp, 60 cụm công nghiệp và các vùng sản xuất. Đây là cơ sở để hình thành hành lang logistics kết nối Campuchia-Tây Ninh-Cảng Quốc tế Long An - thị trường quốc tế.

Theo ông Huy, số doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng dịch vụ logistics và xuất nhập khẩu tại khu vực được ước tính có thể lên tới khoảng 4.000. Tuy nhiên, nguồn hàng hiện còn phân tán; nhiều doanh nghiệp tự tổ chức vận tải riêng lẻ, dẫn đến tình trạng xe có hàng một chiều nhưng chiều về rỗng và mất cân đối container. Vì vậy, cần chuyển từ cách mỗi doanh nghiệp tự làm logistics sang tổ chức nguồn hàng tập trung theo khu vực và hành lang. Mục tiêu là hình thành các “luồng hàng hai chiều”, qua đó giảm xe container chạy rỗng, ổn định lịch vận tải và tối ưu chi phí.

Từ góc độ doanh nghiệp, mô hình được đề xuất là kết nối xuyên suốt cửa khẩu, trung tâm logistics, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, mạng lưới giao thông và Cảng Quốc tế Long An, qua đó đưa hàng hóa từ Tây Ninh đến các tuyến vận tải biển trong nước và quốc tế. Hiệu quả logistics phụ thuộc vào khả năng kết nối và vận hành đồng bộ giữa các mắt xích này.

Để hiện thực hóa mô hình, Cảng Quốc tế Long An đề xuất phối hợp với tỉnh xác định bản đồ nguồn hàng, thiết kế các tuyến từ cửa khẩu qua khu công nghiệp, trung tâm logistics đến cảng; đồng thời phát triển dịch vụ kho bãi, container, gom hàng, đóng/rút hàng, xếp dỡ, vận tải và xuất nhập khẩu.

Doanh nghiệp cũng đề xuất nghiên cứu mô hình hợp tác giữa cửa khẩu, trung tâm logistics và cảng biển, cùng các tuyến hàng hải phù hợp với nguồn hàng của Tây Ninh.

Một hướng khác được doanh nghiệp đặt ra là xây dựng hạ tầng logistics số, kết nối doanh nghiệp, đơn vị logistics, cơ quan hải quan, kho bãi và cảng biển. Việc chia sẻ dữ liệu có thể hỗ trợ theo dõi hàng hóa theo thời gian thực, chủ động lịch vận chuyển, giảm thời gian chờ tại cửa khẩu và cảng biển, qua đó tiết giảm chi phí logistics.

Là nhà đầu tư đang tìm kiếm cơ hội tại Tây Ninh, ông Yap Kwong Weng, Tổng Giám đốc Công ty Việt Nam SuperPort™, cho biết doanh nghiệp đã nhiều lần đến Tây Ninh khảo sát, làm việc với các sở, ngành liên quan để nghiên cứu đầu tư trung tâm logistics và các dịch vụ chuỗi cung ứng.

Công ty định hướng phát triển hệ thống hạ tầng logistics hiện đại phục vụ hoạt động xuất nhập khẩu qua khu vực Cửa khẩu quốc tế Mộc Bài và các khu công nghiệp trên địa bàn. Dự án được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả vận chuyển, lưu trữ, phân phối hàng hóa cho doanh nghiệp sản xuất, thương mại và nông nghiệp; đồng thời từng bước hình thành hệ sinh thái logistics kết nối với hành lang thương mại quốc tế và mạng lưới chuỗi cung ứng trong khu vực.

“Doanh nghiệp mong muốn tiếp tục nhận được sự quan tâm, hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi từ chính quyền tỉnh để sớm triển khai dự án trong thời gian tới”, ông Yap Kwong Weng chia sẻ.

Việt Dũng
baodautu.vn

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục