Theo ông, ngân hàng cần dựa trên những tiêu chí nào để xác định nhu cầu và thời điểm tăng vốn?
Theo tôi, nguyên tắc đầu tiên là tăng vốn phải xuất phát từ chiến lược kinh doanh và mức độ rủi ro ngân hàng chấp nhận, không phải từ mong muốn đứng cao hơn trong bảng xếp hạng vốn điều lệ. Ngân hàng cần trả lời rõ các câu hỏi: Tăng vốn để tài trợ cho hoạt động nào, hấp thụ rủi ro nào và tạo giá trị gì cho cổ đông?
Để xác định đúng nhu cầu, trước hết cần phân biệt vốn điều lệ, vốn chủ sở hữu và vốn tự có dùng để tính các tỷ lệ an toàn. Những khái niệm này liên quan nhưng không đồng nhất. Vốn điều lệ tăng chưa chắc đồng nghĩa với việc ngân hàng nhận thêm tiền mới hoặc có thêm năng lực chịu lỗ tương ứng.
| |
PGS.TS. Nguyễn Văn Phương, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội |
Trên cơ sở đó, quy mô vốn cần được tính trên kế hoạch tài sản có rủi ro, nhu cầu đầu tư, khả năng tích lũy lợi nhuận và các kịch bản bất lợi. Chẳng hạn, cùng tăng dư nợ 15%, hai ngân hàng có cơ cấu khách hàng và chất lượng tài sản khác nhau sẽ có nhu cầu vốn khác nhau. Không thể lấy tốc độ tăng tín dụng nhân với một tỷ lệ cố định để xác định vốn cần bổ sung.
Bên cạnh quy mô, thời điểm tăng vốn cũng là yếu tố quan trọng ngân hàng phải tính toán để duy trì thế chủ động. Về thời điểm, ngân hàng phải chuẩn bị trước khi tỷ lệ an toàn vốn tiến sát giới hạn. Ngân hàng nên xây dựng kế hoạch vốn trung hạn, cập nhật hằng năm và duy trì phần dự phòng cao hơn mức tối thiểu phù hợp với rủi ro của mình. Nguyên tắc cốt lõi là chủ động tăng vốn khi còn quyền lựa chọn, thay vì đợi đến lúc phải huy động bằng mọi giá.
Giữa việc giữ lại lợi nhuận, chia cổ tức bằng cổ phiếu, phát hành cho cổ đông hiện hữu và chào bán riêng lẻ, ngân hàng nên lựa chọn phương án nào để vừa bổ sung vốn hiệu quả, vừa bảo đảm lợi ích cổ đông?
Nếu ngân hàng có lợi nhuận tốt và chưa cần huy động tiền từ bên ngoài ngay, việc giữ lại lợi nhuận là lựa chọn hợp lý. Việc chia cổ tức bằng cổ phiếu thực chất là chuyển cơ cấu các khoản mục, không tạo thêm nguồn lực kinh tế mới. Lợi ích thực chất là không chi tiền mặt ra ngoài.
Trong trường hợp cần bổ sung nguồn lực mới, ngân hàng có thể cân nhắc các phương án phát hành trên thị trường như chào bán cho cổ đông hiện hữu hoặc phát hành riêng lẻ. Phương án thứ nhất bảo đảm cơ hội duy trì tỷ lệ sở hữu cho cổ đông nếu họ thực hiện quyền mua, nhưng phụ thuộc khả năng góp thêm tiền. Phương án thứ hai có thể đưa vào nguồn vốn lớn cùng năng lực quản trị, công nghệ hoặc khách hàng mới, song phải xử lý tốt định giá và quyền lợi cổ đông hiện hữu.
Tuy nhiên, lựa chọn phương thức nào cũng cần tính đến điều kiện thị trường và khả năng triển khai thực tế. Trong thị trường khó khăn và thách thức, không nên đặt toàn bộ kế hoạch vào một đợt phát hành lớn. Có thể dùng lợi nhuận giữ lại để đáp ứng nhu cầu nền tảng, chia nhỏ đợt huy động tiền mới theo tiến độ kinh doanh, đồng thời chuẩn bị đối tác dài hạn. Điều cần tránh là chọn phương án dễ hoàn thành về thủ tục nhưng không giải quyết đúng nhu cầu vốn.
Trong các phương án tăng vốn, việc tăng vốn thông qua chia cổ tức, cổ phiếu thưởng từ nguồn lợi nhuận tích lũy giúp ngân hàng hạn chế phụ thuộc vào thị trường, nhưng khả năng tích lũy nguồn lực cũng có giới hạn, nhất là khi nhu cầu tăng trưởng và đầu tư ngày càng lớn. Theo ông, nguồn vốn nội tại của các ngân hàng nội địa hiện có thể đáp ứng nhu cầu tăng vốn đến đâu?
Nguồn nội tại phụ thuộc trước hết vào lợi nhuận có chất lượng và tỷ lệ được giữ lại. Về trực giác tài chính, khả năng tăng vốn từ bên trong có thể ước tính bằng ROE nhân với tỷ lệ lợi nhuận giữ lại, nhưng đây chỉ là chỉ dẫn, không thay thế tính toán vốn theo quy định.
Để hình dung rõ hơn về khả năng tích lũy vốn, có thể xem xét một ví dụ cụ thể. Ví dụ, nếu ROE đạt 15% và giữ lại 60% lợi nhuận, vốn chủ sở hữu có thể tăng khoảng 9% trong điều kiện đơn giản hóa, trước những biến động khác. Nếu tài sản có rủi ro tăng nhanh hơn đáng kể, ngân hàng sẽ dần tiêu hao phần dự phòng vốn.
Dù vậy, khả năng bổ sung vốn không chỉ phụ thuộc vào số lợi nhuận được giữ lại, mà còn ở chất lượng của nguồn lợi nhuận đó. Điều quan trọng là lợi nhuận ấy đã trích lập đầy đủ chưa, có phụ thuộc khoản thu bất thường không, hay chủ yếu là lãi dự thu khó chuyển thành tiền. Giữ lại lợi nhuận thiếu chất lượng không tạo ra sức chống chịu thực sự.
Khi nguồn lực nội tại không còn đáp ứng được nhu cầu, huy động vốn bên ngoài trở thành yêu cầu cần tính đến. Ngân hàng cần huy động bên ngoài khi tăng trưởng kinh doanh vượt khả năng tích lũy, cần xử lý tổn thất, đầu tư lớn hoặc nâng dự phòng an toàn. Nhưng vốn mới phải đi cùng lộ trình sử dụng. Nhận một lượng vốn quá lớn rồi giải ngân vội để bảo vệ ROE có thể khiến chất lượng tài sản suy giảm.
Vì vậy, hiệu quả của một đợt tăng vốn không nên chỉ được đánh giá qua khả năng duy trì tỷ suất sinh lời ngay lập tức. ROE giảm trong thời gian đầu sau phát hành chưa chắc là thất bại. Cần xem vốn đang được triển khai đúng kế hoạch không và lợi nhuận điều chỉnh theo rủi ro có cải thiện trong trung hạn hay không.
Khi các ngân hàng cần huy động tiền mới, thị trường chứng khoán có vai trò quan trọng trong việc định giá và thu hút nhà đầu tư. Theo ông, thị trường cần những điều kiện gì để thực sự trở thành kênh dẫn vốn trung và dài hạn hiệu quả cho các ngân hàng?
Để thực sự trở thành kênh dẫn vốn hiệu quả, thị trường chứng khoán cần giúp nhà đầu tư đánh giá đúng giá trị và chất lượng của ngân hàng, chứ không chỉ tạo thanh khoản giao dịch cổ phiếu.
Muốn nhà đầu tư có cơ sở để đánh giá đúng chất lượng của ngân hàng, minh bạch thông tin cần được đặt lên hàng đầu. Ngân hàng cần công bố thông tin đủ sâu về nợ xấu, mức dự phòng, cơ cấu tài sản, giao dịch bên liên quan, mức độ tập trung tín dụng và kế hoạch sử dụng vốn. Nếu chỉ có những con số tổng hợp, nhà đầu tư khó phân biệt tăng trưởng có chất lượng với tăng trưởng nhờ chấp nhận thêm rủi ro.
Cùng với minh bạch thông tin, việc phát huy vai trò của các nhóm nhà đầu tư cũng có ý nghĩa quan trọng đối với khả năng huy động vốn dài hạn. Nhà đầu tư tổ chức có thể tạo nguồn cầu dài hạn và tăng sức ép quản trị, nhưng cần được lựa chọn độc lập, tránh biến phát hành riêng lẻ thành công cụ củng cố lợi ích nhóm. Nhà đầu tư nước ngoài có thể bổ sung vốn, kinh nghiệm quản trị và mạng lưới quốc tế; ngân hàng vẫn phải tuân thủ giới hạn sở hữu tương ứng.
Tuy nhiên, khả năng thu hút nhà đầu tư nước ngoài còn phụ thuộc vào khuôn khổ pháp lý và điều kiện áp dụng cụ thể. Chẳng hạn, Nghị định 69/2025/NĐ-CP mở khả năng sở hữu nước ngoài trên 30% nhưng không quá 49% tại một số ngân hàng nhận chuyển giao bắt buộc ngân hàng yếu kém theo phương án được phê duyệt, không phải cơ chế áp dụng cho mọi ngân hàng.
Điều kiện đặc biệt quan trọng là cần bảo vệ cổ đông thiểu số và xử lý nghiêm thông tin sai lệch. Không thể thu hút vốn dài hạn bằng thông tin ngắn hạn thiếu tin cậy.