Nền tảng thanh toán QR của Việt Nam kết nối thêm các nền tảng lớn của Trung Quốc giúp du khách nước này thuận lợi hơn trong thanh toán tại Việt Nam
Hành lang mở rộng, giao dịch tăng tốc
Thông tin được chia sẻ tại Hội thảo “Thúc đẩy thanh toán xuyên biên giới qua mã QR - Động lực mới cho bán lẻ và du lịch”, tổ chức mới đây, trong 8 tháng đầu năm 2026, thanh toán không dùng tiền mặt đạt hơn 21 tỷ giao dịch, với giá trị hơn 260,6 triệu tỷ đồng, tăng 34,56% về số lượng và 13,26% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025. Thanh toán qua kênh Internet đạt hơn 4,4 tỷ giao dịch, giá trị 81,1 triệu tỷ đồng, tăng lần lượt 46,57% và 21,77%; qua kênh điện thoại di động đạt 14 tỷ giao dịch, giá trị 58,4 triệu tỷ đồng, tăng 35,33% về số lượng và 2,39% về giá trị.
Đáng chú ý, giao dịch thanh toán qua QR Code đạt 311 triệu giao dịch, đạt giá trị 274.200 tỷ đồng, tăng 6,66% về số lượng và tăng tới 25,85% về giá trị. Việc giá trị giao dịch qua QR Code tăng nhanh hơn số lượng giao dịch trong 8 tháng đầu năm nay cho thấy, thanh toán qua mã QR không chỉ được sử dụng thường xuyên hơn, mà quy mô dòng tiền đi qua phương thức này cũng đang tăng lên.
Nền tảng QR trong nước càng lớn, dư địa thanh toán xuyên biên giới càng rộng mở. Được biết, NAPAS đã hoàn thành kết nối QR xuyên biên giới với 6 quốc gia, gồm Thái Lan, Lào, Campuchia, Trung Quốc, Singapore và Hàn Quốc. Các kết nối này đã tạo ra bước tăng trưởng ấn tượng về số lượng cũng như giá trị giao dịch qua mã QR. Trong 8 tháng đầu năm nay, với ba thị trường Thái Lan, Lào và Campuchia, chiều thanh toán của du khách ba nước tại Việt Nam ghi nhận số lượng giao dịch tăng 8 lần, giá trị tăng 6 lần so với cùng kỳ năm 2025. Ở chiều ngược lại, giao dịch của khách Việt Nam tại ba thị trường này tăng 5 lần về số lượng và 4 lần về giá trị.
QR Code xuyên biên giới vì thế đang chuyển từ câu chuyện hạ tầng sang hành vi tiêu dùng: khi khách du lịch có thể dùng ứng dụng quen thuộc, một rào cản ở khâu cuối của giao dịch được gỡ bỏ.
Một ví dụ, NAPAS đã kết nối dịch vụ với UPI vào tháng 12/2025, Alipay vào tháng 4/2026 và mới đây là Weixin Pay. Chỉ tính riêng giao dịch của du khách Trung Quốc sử dụng ứng dụng thanh toán của UPI và Alipay để quét mã VietQR Global tại Việt Nam, tháng 8/2026 ghi nhận số lượng giao dịch tăng 3 lần, giá trị tăng 4 lần so với tháng 4/2026.
Việc nền tảng thanh toán QR của Việt Nam kết nối thêm các nền tảng lớn của Trung Quốc mở rộng khả năng đưa phương thức thanh toán quen thuộc của du khách nước này vào nhiều điểm tiêu dùng hơn tại Việt Nam.
Theo ông David Chong, Phó Giám đốc vùng, Thị trường Đông Nam Á, Công ty Tenpay, Tập đoàn Tencent (Trung Quốc), hạ tầng chấp nhận thanh toán tại địa phương có thể trở thành “cánh cửa” kết nối doanh nghiệp Việt Nam với khách quốc tế.
Những con số tăng trưởng của NAPAS cho thấy các kết nối đã bắt đầu được chuyển hóa thành giao dịch thực. Nhưng để QR xuyên biên giới trở thành một hạ tầng thực sự của du lịch, bán lẻ và thương mại, bài toán tiếp theo nằm ở độ sâu của mạng lưới.
Từ “độ rộng kết nối” sang “hiệu quả kết nối”
Một khách du lịch đến Việt Nam không chỉ thực hiện thanh toán tại trung tâm thương mại. Họ có thể ăn nhà hàng, uống cà phê, đặt phòng, đi taxi, mua quà, vào điểm tham quan hay chi tiêu tại một cửa hàng nhỏ. Vì thế, giá trị của một hành lang thanh toán phải được thể hiện ở khả năng theo chân khách hàng đến những nơi họ thực sự tiêu tiền.
Nói như ông Phạm Anh Tuấn, Vụ trưởng Vụ Thanh toán, Ngân hàng Nhà nước, một hành lang thanh toán chỉ thực sự có ý nghĩa khi được sử dụng thường xuyên, có mạng lưới chấp nhận đủ rộng, chi phí hợp lý, trải nghiệm thuận tiện và tạo ra giao dịch kinh tế thực.
Với đơn vị chấp nhận thanh toán, câu chuyện không đơn giản là đặt thêm một mã QR trên quầy. Người bán cần biết giao dịch đến từ đâu, tiền được ghi Có thế nào, đối soát ra sao, chi phí bao nhiêu và xử lý thế nào khi phát sinh sự cố. Càng mở rộng sang khách quốc tế, yêu cầu phía sau mỗi điểm chấp nhận càng lớn.
Ở chiều ngược lại, khách hàng cần nhận biết rõ nơi nào có thể thanh toán bằng ứng dụng quen thuộc. Nếu một du khách Trung Quốc có Weixin Pay nhưng phải hỏi từng cửa hàng có chấp nhận ứng dụng này hay không, lợi thế của kết nối kỹ thuật sẽ bị giảm đáng kể.
Theo ông David Chong, “technical acceptance” (khả năng chấp nhận thanh toán về mặt kỹ thuật) mới chỉ là nền tảng, còn “active acceptance” (khả năng chấp nhận và sử dụng thực tế) mới tạo ra giá trị thị trường. Điều đó đòi hỏi người bán và nhân viên biết cách tiếp nhận, du khách nhận diện được điểm chấp nhận và cả hai tin tưởng vào trải nghiệm thanh toán.
Vì vậy, giai đoạn tiếp theo của QR xuyên biên giới không chỉ là mở thêm hành lang thanh toán, mà phải mở thêm điểm chạm chi tiêu. Tại sân bay, khách sạn, điểm tham quan, khu mua sắm, nhà hàng, quán cà phê, vận tải hay các hộ kinh doanh nhỏ, mỗi điểm chấp nhận mới là một cơ hội đưa thêm dòng chi tiêu của khách quốc tế vào nền kinh tế.
Nếu mạng lưới này được mở rộng, QR xuyên biên giới sẽ không còn chỉ là công cụ giúp khách “trả tiền”, mà trở thành hạ tầng kết nối khách du lịch với hàng hóa, dịch vụ và doanh nghiệp địa phương. Khi đó, giá trị của một kết nối không nằm ở số lần mã QR được quét, mà ở số giao dịch kinh tế được tạo ra phía sau những lần quét đó.
Tại Việt Nam, thói quen thanh toán QR trong nước đã hình thành và mạng lưới kết nối quốc tế mở rộng nhanh, nhưng hai yếu tố này chỉ tạo thành lợi thế kinh tế khi được nối với nhau tại điểm bán. Bởi vậy, thước đo phát triển của thanh toán qua QR Code trong giai đoạn mới không chỉ là có thêm bao nhiêu quốc gia được kết nối, mà còn là độ phủ điểm chấp nhận, số lượng và giá trị giao dịch, mức độ sử dụng của khách du lịch và tác động tới bán lẻ, dịch vụ, du lịch. Ông Tuấn đặt vấn đề chuyển từ đo “độ rộng kết nối” sang “hiệu quả kết nối”.
Nhìn theo cách đó, QR xuyên biên giới đang bước vào “vòng đua” mới. Kết nối hạ tầng là vòng đầu tiên, kéo người dùng vào mạng lưới là vòng tiếp theo và đích đến cuối cùng là kết nối kinh tế. Một du khách thanh toán thuận tiện hơn, một hộ kinh doanh có thêm khách hàng, một cửa hàng nhỏ có thêm doanh thu mới là giá trị nằm phía sau một mã QR được quét thành công.