Ông Nguyễn Thế Minh, Giám đốc Khối Ngân hàng Đầu tư Công ty cổ phần Chứng khoán An Bình. Ảnh: Dũng Minh
Vốn nội “cân đỡ” vốn ngoại
Phát biểu tại Hội thảo “Tái cấu trúc các kênh dẫn vốn”, ông Nguyễn Thế Minh cho rằng, việc tỷ lệ giao dịch của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam chiếm một tỷ lệ rất lớn lâu nay thường bị nhìn nhận ở khía cạnh tiêu cực. Nhưng thực tế, nếu không có lực lượng nhà đầu tư cá nhân đông đảo thì trong thời gian từ năm 2024 đến nay, thị trường chứng khoán Việt Nam cũng diễn biến tương tự như thị trường Indonesia.
Năm 2024, Indonesia hãnh diện là thị trường có mức tăng vượt trội so với các thị trường toàn cầu, thu hút mạnh mẽ cả dòng vốn FDI và FII. Nhưng đến năm 2026, họ gần như quay lại về xuất phát điểm ban đầu và dòng vốn rút ra rất mạnh.
Năm 2024 - 2025, thị trường chứng khoán Việt Nam bị rút ròng hơn 6 tỷ USD. Trong 6 tháng đầu năm nay, thị trường tiếp tục bị rút ra khoảng 78.000 tỷ đồng. Trong bối cảnh đó, dòng vốn nội, đặc biệt là dòng vốn tổ chức trong nước từ giữa năm 2025 đến nay đã cân đỡ lại lực bán của các nhà đầu tư nước ngoài, giúp điểm số thị trường vẫn đi lên và duy trì ở vùng cao lịch sử.
“Phải nói rằng, dòng vốn nội là một trong những dòng vốn đáng khen và cần nỗ lực giữ lại. Vấn đề là làm sao để dòng vốn này bớt trading đi, bớt biến động đột ngột”, ông Minh nêu quan điểm.
Hút vốn ngoại, cần triển khai NVDR và thúc đẩy ETF
Đánh giá cao nỗ lực của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước trong việc thúc đẩy lộ trình nâng hạng thị trường chứng khoán lên mới nổi thứ cấp của FTSE Russell, ông Nguyễn Thế Minh cho rằng, phía trước vẫn còn nhiều công việc cần làm để thị trường chứng khoán được MSCI nâng hạng.
Theo chuyên của ABS, các tiêu chí nâng hạng của MSCI rất khắt khe, đặc biệt là tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài và các điều kiện về tỷ lệ free-float (cổ phiếu giao dịch tự do). Để gia tăng niềm tin của tổ chức này, ngoài việc tăng cường gặp gỡ với họ và giải quyết các bài toán về mặt kỹ thuật, ông Minh cho rằng, cần có các giải pháp ngắn hạn. Ngoài nới tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài, cần phải tính đến các giải pháp như NVDR (chứng chỉ lưu ký không có quyền biểu quyết).
Thực ra, NVDR đã được đưa vào Luật Chứng khoán, nhưng chưa có mô hình triển khai. Hiện nay, có hai mô hình NVDR: Một là, mô hình doanh nghiệp tự phát hành NVDR cho các nhà đầu tư nước ngoài. Mô hình thứ hai, Thái Lan triển khai rất thành công, hiện chiếm tới 21% giá trị giao dịch, thanh khoản trung bình trên thị trường chứng khoán Thái Lan. Đây là sản phẩm do Ủy ban Chứng khoán và Sở giao dịch chứng khoán Thái Lan phát hành. Sản phẩm này giải quyết được vướng mắc về tỷ lệ room của nhà đầu tư ngoại.
“Tất nhiên, về dài hạn, chúng ta sửa đổi ngành nghề kinh doanh có điều kiện, nhưng việc phát hành NVDR cũng nên xúc tiến sớm, đặc biệt là có thể áp dụng ngay mô hình của Thái Lan”, ông Minh kiến nghị.
Giải pháp thứ hai là phát triển sản phẩm ETF. Theo quan sát của ông Minh, nhà đầu tư Đài Loan (Trung Quốc) hay Hàn Quốc cực kỳ ưa chuộng sản phẩm ETF. Từng xúc tiến đầu tư với nhà đầu tư Đài Loan (Trung Quốc), ông Minh khẳng định, họ chỉ quan tâm một thứ duy nhất, đó là ETF. Nếu không có ETF, họ không thể đầu tư vào được.
“Thị trường Mỹ và Đài Loan (Trung Quốc) đã triển khai rất mạnh các sản phẩm này. Tôi nghĩ chúng ta cũng nên hướng đến việc như vậy”, chuyên gia ABS nhấn mạnh.
Ngoài việc hiện nay đang phụ thuộc vào chỉ số do Sở giao dịch chứng khoán thành lập, ông Minh cho rằng, Việt Nam nên hướng đến việc cho phép các quỹ có thể tự thành lập ra các chỉ số và phát hành ETF theo chỉ số mà các quỹ đang thực hiện.
Giải pháp thứ ba, theo ông Minh, là câu chuyện tăng cường tính minh bạch của thị trường chứng khoán.
Nhận định thị trường Việt Nam chưa có một định lượng rõ ràng về tính minh bạch, ông Minh chia sẻ, khi làm việc với đối tác tại Đài Loan (Trung Quốc) và Thái Lan, họ có một bộ xếp hạng là IR rating (có thể theo một tổ chức, hoặc đến từ Ủy ban Chứng khoán hay Sở giao dịch chứng khoán). Bộ xếp hạng này có nhiều chỉ số định lượng và phần lớn trong đó cũng có các yếu tố định tính.
“Khi các nhà đầu tư đầu tư vào thị trường Việt Nam, họ có thể căn cứ dựa vào các mức xếp hạng về hoạt động quan hệ nhà đầu tư (IR) để đánh giá mức độ minh bạch của các doanh nghiệp niêm yết”, ông Minh nói.