TS. Mạc Quốc Anh, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa TP. Hà Nội
Ông đánh giá thế nào về tính thời điểm của đề xuất giảm 30% thuế thu nhập cá nhân năm 2026-2027 đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh và 30% thuế thu nhập doanh nghiệp với doanh nghiệp có doanh thu đến 10 tỷ đồng?
Tôi cho rằng đây là một đề xuất đúng thời điểm, đúng đối tượng và có ý nghĩa khá đặc biệt đối với khu vực kinh tế tư nhân quy mô nhỏ. Điểm quan trọng không chỉ nằm ở con số giảm 30%, mà ở thông điệp chính sách: Nhà nước sẵn sàng chia sẻ một phần nguồn lực tài khóa với doanh nghiệp và người kinh doanh để củng cố sức sản xuất, sức chống chịu và niềm tin đầu tư.
Tính thời điểm của chính sách thể hiện ở ba khía cạnh.
Thứ nhất, sau một thời gian dài doanh nghiệp phải thích ứng với những biến động của thị trường, chi phí đầu vào, sức mua, dòng tiền và cạnh tranh, nhiều doanh nghiệp nhỏ hiện không thiếu cơ hội kinh doanh nhưng lại thiếu “vốn đệm” để nắm bắt cơ hội. Khảo sát được Bộ Tài chính viện dẫn cho thấy 59,3% hộ, cá nhân kinh doanh gặp khó khăn do giá đầu vào cao và biến động; 43,8% gặp khó về thị trường tiêu thụ và 32,6% gặp vấn đề về nguồn lực như vốn, nhân sự.
Thứ hai, năm 2026 cũng là thời điểm khu vực hộ kinh doanh chuyển mạnh từ phương thức thuế khoán sang tự khai, tự nộp và tăng cường sử dụng hóa đơn điện tử. Đây là sự thay đổi cần thiết để minh bạch hóa nền kinh tế, nhưng cũng tạo ra chi phí chuyển đổi về kế toán, công nghệ, nhân lực và tâm lý tuân thủ. Chính sách giảm thuế nếu được ban hành vào thời điểm này sẽ vừa hỗ trợ tài chính, vừa tạo động lực để người kinh doanh chủ động bước vào khu vực chính thức.
Thứ ba, đây là thời điểm Việt Nam cần tạo ra những động lực tăng trưởng mới từ khu vực kinh tế tư nhân. Muốn doanh nghiệp đầu tư, tạo việc làm, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh thì chính sách không chỉ yêu cầu doanh nghiệp “phải làm gì”, mà cần trả lời được câu hỏi “Nhà nước sẽ đồng hành bằng nguồn lực nào?”
Vì vậy, tôi nhìn nhận giảm 30% thuế trong hai năm như một khoảng thở có thời hạn nhưng cần thiết, giúp doanh nghiệp củng cố nền tảng để bước sang một chu kỳ tăng trưởng mới.
![]() |
Giảm thuế giúp doanh nghiệp củng cố nền tảng để bước sang một chu kỳ tăng trưởng mới |
Đề xuất giảm 30% thuế phải nộp năm 2026 và 2027, tạo đòn bẩy tài chính thiết thực, giúp hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ phục hồi ra sao để tự tin tái đầu tư, thưa ông?
Trước hết cần hiểu chính xác rằng đây là giảm 30% số thuế phải nộp, không phải doanh nghiệp được hỗ trợ bằng 30% doanh thu hay 30% lợi nhuận. Chẳng hạn, một doanh nghiệp sau khi xác định nghĩa vụ thuế TNDN phải nộp là 100 triệu đồng, nếu đủ điều kiện thì phần được giảm theo đề xuất là 30 triệu đồng. Giá trị tuyệt đối đối với từng doanh nghiệp có thể không quá lớn, nhưng với doanh nghiệp siêu nhỏ, hộ kinh doanh, vài chục triệu hay vài trăm triệu đồng dòng tiền được giữ lại đôi khi rất quan trọng.
Tôi cho rằng tác động của khoản giảm thuế nên được nhìn theo hiệu ứng quay vòng của vốn. Một đồng thuế được giữ lại nếu doanh nghiệp sử dụng để nhập nguyên liệu, trả lương, thuê mặt bằng, mua phần mềm, đầu tư máy móc hay triển khai một đơn hàng mới thì đồng tiền đó không nằm yên. Nó tiếp tục đi vào nền kinh tế, tạo doanh thu cho doanh nghiệp khác, tạo thu nhập cho người lao động và từ đó tiếp tục phát sinh nghĩa vụ thuế.
Bộ Tài chính ước tính, nếu chính sách được thông qua, tổng số giảm thu ngân sách trong hai năm khoảng 6.701 tỷ đồng, gồm khoảng 3.191 tỷ đồng năm 2026 và 3.510 tỷ đồng năm 2027. Có thể nhìn ở chiều ngược lại: đó cũng chính là hơn 6.700 tỷ đồng nguồn lực trước mắt được để lại trong khu vực sản xuất, kinh doanh.
Để chuyển từ hỗ trợ sang tăng trưởng, cần đặt chính sách thuế trong một hệ sinh thái gồm thuế - tín dụng - thị trường - công nghệ - mặt bằng - thủ tục hành chính.
Theo tôi, doanh nghiệp sẽ sử dụng nguồn lực này cho ít nhất bốn nhu cầu rất thiết thực.
Một là, bổ sung vốn lưu động, đặc biệt đối với doanh nghiệp có chu kỳ thu tiền dài nhưng phải trả tiền nguyên vật liệu, lương và chi phí cố định trước.
Hai là, giữ người lao động và nâng cao năng suất. Với doanh nghiệp nhỏ, nhân sự có kinh nghiệm là một loại tài sản. Khi dòng tiền căng thẳng, việc mất lao động chủ chốt khiến quá trình phục hồi càng khó khăn.
Ba là, tái đầu tư cho công nghệ và chuyển đổi số. Một doanh nghiệp nhỏ có thể chưa đủ khả năng xây dựng hệ thống công nghệ lớn, nhưng hoàn toàn có thể đầu tư phần mềm quản trị, hóa đơn điện tử, AI, thương mại điện tử, quản trị khách hàng hoặc tự động hóa một công đoạn.
Bốn là, tạo thêm niềm tin để doanh nghiệp nhận đơn hàng, mở rộng thị trường và vay vốn. Đây là tác động tâm lý rất quan trọng. Khi doanh nghiệp biết chính sách ổn định trong hai năm, họ có khả năng lập kế hoạch tài chính tốt hơn thay vì chỉ ứng phó theo từng tháng.
Tuy nhiên, giảm thuế không phải “liều thuốc duy nhất”. Để chuyển từ hỗ trợ sang tăng trưởng, cần đặt chính sách thuế trong một hệ sinh thái gồm thuế - tín dụng - thị trường - công nghệ - mặt bằng - thủ tục hành chính.
Có ý kiến lo ngại giảm thuế làm hụt thu ngân sách, ông nhìn nhận ra sao về hiệu ứng “khoan thư sức dân” để nuôi dưỡng nguồn thu bền vững?
Tinh thần “khoan thư sức dân” trong điều hành kinh tế, theo tôi, không nên được hiểu đơn giản là thu ít thuế hơn. Bản chất là chọn thời điểm và mức độ huy động nguồn lực xã hội hợp lý để nuôi dưỡng sức sản xuất.
Một doanh nghiệp đang khó khăn nếu phải sử dụng phần lớn dòng tiền để đáp ứng nghĩa vụ trước mắt có thể phải thu hẹp sản xuất, cắt lao động hoặc trì hoãn đầu tư. Khi doanh nghiệp đóng cửa thì ngân sách không chỉ mất thuế TNDN mà còn mất các nguồn thu liên quan đến tiền lương, tiêu dùng, giao dịch, chuỗi cung ứng.
Ngược lại, nếu giảm một phần nghĩa vụ thuế có mục tiêu để doanh nghiệp tồn tại, tăng doanh thu, tạo việc làm và mở rộng quy mô, thì cơ sở thuế của những năm sau có khả năng lớn hơn.
Do đó, bài toán ở đây phải được tính theo hiệu quả động, thay vì chỉ tính số tiền giảm thu trong một năm ngân sách.
Theo ông, cần cơ chế và hạ tầng công nghệ thế nào để việc giảm thuế diễn ra tự động, minh bạch, không phát sinh thủ tục “xin - cho”?
Tôi cho rằng đây là điều kiện quyết định thành công của chính sách. Nếu Nhà nước giảm được 30% thuế nhưng doanh nghiệp phải mất nhiều thời gian làm hồ sơ, xin xác nhận, chứng minh mình thuộc diện thụ hưởng thì hiệu quả chính sách sẽ giảm đáng kể.
Nguyên tắc cần hướng tới là “đủ điều kiện thì hệ thống tự xác định - tự tính - tự giảm”, không phải “doanh nghiệp đủ điều kiện thì phải đi xin”.
Hiện định hướng của ngành tài chính là tăng mạnh thủ tục thuế điện tử, hóa đơn điện tử, nền tảng số dùng chung và phát triển hệ thống tính thuế tự động từ dữ liệu hóa đơn nhằm giảm gánh nặng kê khai. Đây là nền tảng rất thuận lợi để triển khai chính sách giảm thuế theo phương thức tự động.
Theo tôi cần hình thành một cơ chế “một dữ liệu - nhiều mục đích sử dụng”. Cơ quan thuế đã có dữ liệu mã số thuế, hóa đơn điện tử, doanh thu, tờ khai và nghĩa vụ thuế thì không nên yêu cầu doanh nghiệp nộp lại những giấy tờ mà Nhà nước đã có.
Khi doanh nghiệp lập quyết toán, hệ thống có thể tự động xác định tổng doanh thu năm có thuộc ngưỡng 10 tỷ đồng hay không, xác định nghĩa vụ thuế trước giảm và tự áp dụng mức giảm 30%. Người nộp thuế chỉ cần kiểm tra, xác nhận hoặc phản hồi nếu dữ liệu chưa chính xác.
Tôi đề xuất thêm một “bảng điều khiển quyền lợi doanh nghiệp” trên nền tảng số. Khi đăng nhập, doanh nghiệp có thể nhìn thấy mình đang thuộc diện được hưởng chính sách nào: giảm thuế, hỗ trợ chuyển đổi số, hỗ trợ lãi suất, xúc tiến thương mại, đào tạo hay mặt bằng. Chính sách phải tìm đến doanh nghiệp chứ không nên bắt doanh nghiệp đi tìm từng chính sách.
Đồng thời, công nghệ phải được sử dụng để hậu kiểm và quản trị rủi ro. Những trường hợp doanh thu tăng giảm bất thường, chia nhỏ hóa đơn hoặc hình thành nhiều pháp nhân có liên quan có thể được hệ thống cảnh báo. Như vậy vừa giảm tiền kiểm và thủ tục cho đại đa số doanh nghiệp tuân thủ tốt, vừa tập trung thanh tra vào nhóm có rủi ro.
Mục tiêu cuối cùng phải là chuyển từ “quản lý bằng hồ sơ” sang “quản lý bằng dữ liệu”, từ cơ chế xin - cho sang cơ chế quyền lợi tự động.
