Tình trạng nợ công gia tăng nhanh chóng đã dấy lên lo ngại về một cuộc khủng hoảng tài khóa tiềm tàng. Các nhà kinh tế lo ngại rằng sự kết hợp giữa việc vay nợ lớn, tăng chi tiêu và cắt giảm thuế có thể đẩy nền kinh tế lớn nhất thế giới vào khủng hoảng.
Maya MacGuineas, Chủ tịch Ủy ban Ngân sách Liên bang có Trách nhiệm (CRFB) cho biết: "Khoản nợ 40.000 tỷ USD không chỉ tồn tại trên sổ sách của chính phủ; nó tác động đến toàn bộ nền kinh tế và bằng cách này hay cách khác, cuối cùng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến túi tiền của người dân".
Theo phân tích của CRFB, Mỹ đã mất gần 200 năm để tổng nợ lần đầu tiên vượt mốc 1.000 tỷ USD vào năm 1981. Tuy nhiên, nếu tính theo lạm phát, 1.000 tỷ USD khi đó tương đương khoảng 3.670 tỷ USD theo giá trị hiện nay.
Theo ước tính của Văn phòng Ngân sách Quốc hội Mỹ (CBO), nợ công sẽ tăng từ 101% GDP năm 2026 lên 120% GDP vào năm 2036, vượt xa kỷ lục trước đó của Mỹ là 106% GDP sau Thế chiến II.
Tại sao nợ công lại tăng vọt?
Jessica Riedl, chuyên gia nghiên cứu về ngân sách và thuế tại Viện Brookings cho biết, khoản nợ công tăng vọt của Mỹ "là hệ quả tất yếu từ những mong muốn không hồi kết về cắt giảm thuế, mở rộng phúc lợi và đầu tư quốc phòng, cũng như việc chúng ta từ chối giải quyết tình trạng thâm hụt ngày càng trầm trọng của các chương trình an sinh xã hội và Medicare".
Trong gần hai thập kỷ qua, đã có hai cuộc khủng hoảng lớn buộc chính phủ phải vay mượn và gia tăng chi tiêu. Cuộc suy thoái giai đoạn 2007-2009 là cuộc khủng hoảng đầu tiên, trong khi cuộc khủng hoảng thứ hai là đại dịch Covid-19 trong giai đoạn 2020-2023.
Các nhà phân tích cho rằng một nguyên nhân khác dẫn đến việc tăng vay là do nguồn thu từ thuế và các khoản thu khác không theo kịp tốc độ chi tiêu, đặc biệt là khi Mỹ phải chi nhiều hơn cho lương hưu và chăm sóc sức khỏe cho một dân số đang già hóa.
Bên cạnh đó là vấn đề lãi suất. Lãi suất duy trì ở mức thấp cho đến khi đại dịch bùng phát; khi đó, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) đã tăng lãi suất để kiềm chế lạm phát.
Hiện Mỹ đang phải chi khoảng 1.100 tỷ USD mỗi năm để trả lãi cho các khoản nợ, nhỉnh hơn cả chi tiêu quốc phòng. Trong 10 tháng đầu của năm tài khóa 2026, chi phí lãi vay cũng đã vượt chi tiêu cho bảo hiểm y tế, trở thành khoản chi lớn thứ hai của ngân sách liên bang, chỉ sau các chương trình hưu trí.
Bất chấp chi phí gia tăng, Tổng thống Trump vẫn thực hiện cắt giảm thuế mạnh tay cho các doanh nghiệp, bắt đầu bằng Đạo luật Cắt giảm Thuế và Việc làm năm 2017 trong nhiệm kỳ đầu tiên của mình; đạo luật này đã giảm thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp từ 35% xuống còn 21%.
Tiếp đó, vào năm 2025, ông đã ban hành Đạo luật "One Beautiful Bill" nhằm luật hóa vĩnh viễn các quy định của đạo luật năm 2017. Mặc dù dự luật này cắt giảm 12% chi tiêu cho chương trình chăm sóc y tế dành cho người thu nhập thấp Medicaid, nhưng nó cũng nâng trần nợ công thêm gần 5.000 tỷ USD để tạo điều kiện cho việc thực hiện các chính sách trên.
Hiện nay, thuế thu nhập cá nhân đóng góp khoảng một nửa nguồn thu của chính phủ liên bang Mỹ, trong khi thuế thu nhập doanh nghiệp chỉ chiếm khoảng 9%.
Trong khoảng thời gian giữa hai nhiệm kỳ tổng thống của ông Trump, chính quyền cựu Tổng thống Joe Biden cũng đã chi mạnh tay cho đầu tư cơ sở hạ tầng và các khoản trợ cấp năng lượng sạch.
Ai là chủ nợ của Mỹ
Theo dữ liệu của Bộ Tài chính Mỹ, nợ công do chính phủ vay từ các nhà đầu tư trong và ngoài nước chiếm khoảng 80% tổng nợ liên bang, tương đương khoảng 32.000 tỷ USD. Theo phân tích của Quỹ Peter G. Peterson, khoảng 21.000 tỷ USD trong số đó là các khoản nợ đối với chủ nợ trong nước, bao gồm nhiều đối tượng khác nhau, trong đó có Fed với khoảng 4.528 tỷ USD.
Trên phương diện quốc tế, Mỹ đang nợ nhiều quốc gia và nhà đầu tư tư nhân. Năm 1970, tổng các chủ nợ nước ngoài chỉ nắm giữ 5% tổng nợ, nhưng đến năm 2025, con số này đã tăng lên 32%. Điều đó nghĩa là dù nguồn vốn từ nước ngoài góp phần hỗ trợ hoạt động của nền kinh tế Mỹ, một phần ngày càng lớn thu nhập của nước này cũng phải được chuyển ra nước ngoài dưới dạng các khoản thanh toán lãi vay.
Tính đến năm 2025, Mỹ nợ Nhật Bản 1.203 tỷ USD, Anh 889 tỷ USD, Trung Quốc 683 tỷ USD, cũng như nợ hơn 30 quốc gia và thực thể khác.
Ngoài ra, 20% khác của tổng nợ quốc gia – khoảng 8.000 tỷ USD – là các khoản nợ nội bộ chính phủ và do đó không ảnh hưởng đến tình hình tài chính tổng thể.
Việc nợ công gia tăng có ý nghĩa gì đối với nền kinh tế Mỹ?
Các nhà phân tích cho rằng nếu không được kiểm soát, tình trạng nợ gia tăng có thể gây ra khủng hoảng kinh tế cho Mỹ, chẳng hạn như dưới dạng siêu lạm phát hoặc lãi suất tăng cao.
Khi nợ ngày càng tăng, rủi ro đầu tư tư nhân sụt giảm do lo ngại về độ an toàn cũng tăng theo, và hệ quả là tăng trưởng kinh tế có thể bị chậm lại.
"Chúng ta đang phải trả giá cho điều này. Khoản nợ này đang kìm hãm tăng trưởng, đẩy lãi suất lên cao và làm trầm trọng thêm tình trạng lạm phát", chuyên gia nghiên cứu Jessica Riedl từ Viện Brookings nhận định.
Các nhà lập pháp cuối cùng có thể buộc phải áp dụng những biện pháp thắt lưng buộc bụng gây nhiều đau đớn, chẳng hạn như tăng thuế. Các chương trình an sinh xã hội cũng có thể bị ảnh hưởng.
Các chuyên gia cảnh báo rằng vấn đề này có thể mất nhiều năm mới giải quyết được, và hậu quả sẽ kéo dài qua nhiều thế hệ, buộc giới trẻ phải gánh chịu chi phí cao hơn trong thời gian dài.
Hơn nữa, phần còn lại của thế giới cũng sẽ chịu tác động: Mỹ là trụ cột của nền kinh tế toàn cầu, và một cuộc khủng hoảng tại đây nhiều khả năng sẽ gây tổn hại cho các thị trường quốc tế.
Theo bà MacGuineas, bước đi điều chỉnh đầu tiên là cam kết chấm dứt ngay việc vay nợ mới. Bà cho rằng các nhà lập pháp cũng cần thành lập một ủy ban tài khóa lưỡng đảng để xem xét kỹ lưỡng các vấn đề này. Tuy nhiên, các nhà phân tích nhận định rằng mục tiêu này rất khó đạt được trong bối cảnh chính phủ vừa cam kết duy trì mức thuế thấp và cắt giảm chi tiêu, lại vừa tham gia vào một cuộc chiến cực kỳ tốn kém ở Trung Đông.