Cuộc thi mang tên NIM
Do lợi nhuận quá phụ thuộc vào tín dụng nên chênh lệch lãi suất huy động và cho vay (NIM) trở thành một chỉ tiêu trọng yếu nhất của mỗi ngân hàng, NIM cao đồng nghĩa với lợi nhuận lớn và ngược lại
Nhìn lại NIM của ngành ngân hàng trong năm 2025, tổng giám đốc một ngân hàng cổ phần ví von rằng, các tổ chức tín dụng vừa trải qua một cuộc thi “NIM mỏng nhất, nhưng vẫn sống tốt”. Với Ngân hàng X tự tin vì NIM thường cao hơn đối thủ, nhưng rồi do cạnh tranh giảm lãi cho vay để thu hút khách hàng trong bối cảnh chi phí huy động vẫn cao nên NIM bị thu hẹp lại. Trong khi đó, người gửi tiền lại chẳng mấy ai quan tâm tới NIM, mà chỉ thấy lãi gửi tiết kiệm thấp hơn trong bối cảnh giá cả tăng trong cuộc sống hàng ngày.
“Dù nhìn vào số liệu thì nghiêm túc, nhưng nếu tưởng tượng các ngân hàng trong vai trò các thí sinh nhút nhát sợ mất khách, thì NIM trở thành ‘giải thưởng’… không ai muốn đoạt. Bảng báo cáo quý với NIM càng mỏng xuất hiện như những tờ giấy chứng nhận ‘đáng buồn’ và cuộc thi này đến cuối cùng không có người thắng”, vị này nói.
Phó tổng giám đốc phụ trách khối nguồn vốn một ngân hàng cổ phần khác chia sẻ, thu nhập lãi thuần vẫn chịu nhiều áp lực trong những tháng cuối năm 2025, dù có sự hồi phục dần từ đầu quý III nhờ nhu cầu tín dụng mạnh mẽ, đặc biệt đến từ nhóm khách hàng cá nhân. Bên cạnh đó, “sức khỏe” tài chính của khách hàng cải thiện giúp hoàn nhập/giảm các khoản thoái lãi. Tuy nhiên, mức phục hồi NIM có sự phân hóa giữa các nhóm ngân hàng.
Cụ thể, những ngân hàng tư nhân năng động có lợi thế trong hoạt động huy động vốn với tỷ trọng CASA (tiền gửi không kỳ hạn) cao, có chất lượng tài sản tốt và tệp khách hàng đa dạng có triển vọng cải thiện NIM sớm hơn nhờ tối ưu hóa sử dụng vốn, nâng cao tỷ trọng tín dụng bán lẻ và doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) có tỷ lệ sinh lời cao. Còn NIM nhóm ngân hàng quốc doanh sẽ đi ngang/tăng nhẹ khi tiếp tục đứng trước áp lực giảm lãi suất hỗ trợ cho khách hàng.
Tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung - dài hạn đã tăng mạnh ở nhiều ngân hàng, khiến dư địa để các ngân hàng có thể gia tăng tỷ trọng cho vay trung - dài hạn với lợi suất cao không còn nhiều.
Tác động tiêu cực từ chi phí vốn tăng kỳ vọng được bù đắp trong năm 2026, tới từ nhu cầu tín dụng cao trong bối cảnh nguồn cung được định mức, tăng trưởng cho vay bán lẻ cao hơn, giải ngân các khoản vay trung - dài hạn lớn hơn và chất lượng tài sản cải thiện.
“Ước tính NIM cho cả nhóm ngân hàng quốc doanh và ngân hàng tư nhân sẽ tăng 8 điểm cơ bản so với cùng kỳ trong năm 2026”, vị tổng giám đốc nhận định.
Đồng quan điểm, một lãnh đạo Vietcombank phân tích: “Nhu cầu tín dụng mạnh mẽ hơn, cùng với sự chuyển dịch sang cơ cấu cho vay trung - dài hạn, bán lẻ và doanh nghiệp SME. Các gói ưu đãi lãi suất quy mô lớn thời hạn 1-2 năm, đặc biệt là các gói cho vay mua nhà được nhiều ngân hàng tung ra từ năm 2023 sẽ chuyển sang lãi suất thả nổi, qua đó cải thiện lợi suất tài sản trong năm 2026”.
Dẫu vậy, một số yếu tố được lãnh đạo các ngân hàng nhận định có thể tác động đến khả năng hồi phục NIM, đó là tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung - dài hạn đã tăng mạnh ở nhiều ngân hàng, khiến dư địa để các ngân hàng có thể gia tăng tỷ trọng cho vay trung - dài hạn với lợi suất cao không còn nhiều. Đầu ra là như vậy, nhưng ngắn hạn thì NIM vẫn chịu áp lực giảm bởi lãi suất huy động đang tăng. Nhiều ngân hàng phải tăng cường huy động vốn qua kênh giấy tờ có giá với chi phí vốn cao hơn để đảm bảo yêu cầu bộ đệm vốn và gia tăng lãi suất huy động trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt để thu hút khách hàng, đặc biệt với những ngân hàng có cơ cấu huy động vốn kém linh hoạt.
Chưa dễ phục hồi
Với triển vọng NIM toàn ngành dự báo chỉ hồi phục nhẹ trong năm 2026, thậm chí tiếp tục chịu áp lực trong nửa đầu năm trước khi cải thiện rõ hơn từ nửa cuối năm, bức tranh hoạt động của ngành ngân hàng bước vào giai đoạn chuyển pha quan trọng: Từ tăng trưởng dựa vào biên lãi sang tăng trưởng dựa vào cấu trúc. Khi dư địa nới rộng chênh lệch lãi suất ngày càng hạn hẹp, NIM không còn đóng vai trò “động cơ chính” kéo lợi nhuận, mà trở thành thước đo phản ánh năng lực quản trị vốn, chất lượng tài sản và mức độ linh hoạt của từng mô hình kinh doanh ngân hàng.
Trong bối cảnh đó, thu nhập lãi thuần của các ngân hàng được dự báo vẫn tăng trưởng trong năm 2026, nhưng mức tăng mang tính ổn định hơn là bứt phá. Động lực chính đến từ tăng trưởng tín dụng cao hơn, đặc biệt ở các phân khúc bán lẻ, doanh nghiệp SME, các hộ kinh doanh trên nền tảng dữ liệu và các khoản vay trung - dài hạn có biên lợi suất tốt hơn, thay vì kỳ vọng vào việc mở rộng NIM như các chu kỳ trước. Tuy nhiên, chi phí vốn nhiều khả năng tiếp tục neo ở mức cao do áp lực cạnh tranh huy động, yêu cầu đảm bảo các tỷ lệ an toàn vốn và xu hướng gia tăng phát hành giấy tờ có giá, khiến khả năng cải thiện mạnh NIM bị giới hạn.
Điểm khác biệt trong năm 2026 so với giai đoạn trước, theo ông Lê Hoài Ân - CFA, Founder IFSS, nằm ở sự phân hóa rõ nét giữa các nhóm ngân hàng. Những ngân hàng có CASA cao, khả năng tối ưu hóa nguồn vốn, chất lượng tài sản tốt và tệp khách hàng đa dạng sẽ phục hồi NIM sớm và bền vững hơn. Ngược lại, các ngân hàng có cơ cấu huy động kém linh hoạt, phụ thuộc nhiều vào vốn kỳ hạn dài với chi phí cao tiếp tục chịu áp lực lên thu nhập lãi thuần, ngay cả khi tín dụng tăng trưởng tốt. Nói cách khác, khi NIM mỏng đi, lợi thế cạnh tranh không còn nằm ở “giá vốn rẻ” đơn thuần, mà ở khả năng phân bổ vốn hiệu quả và kiểm soát rủi ro tín dụng.
“Song song với đó, thu nhập ngoài lãi được kỳ vọng tiếp tục đóng vai trò bệ đỡ quan trọng cho lợi nhuận toàn ngành. Việc đẩy mạnh bancassurance, thanh toán, dịch vụ số và các sản phẩm tài chính tích hợp không chỉ giúp đa dạng hóa nguồn thu, mà còn làm giảm sự phụ thuộc vào biến động của NIM. Trong bối cảnh biên lãi khó mở rộng, chiến lược gia tăng tỷ trọng thu nhập phí và kiểm soát chi phí vận hành sẽ là yếu tố quyết định khả năng duy trì tăng trưởng lợi nhuận 2 chữ số của các ngân hàng trong năm 2026”, ông Ân nói.
Những thay đổi này cũng tác động trực tiếp tới thị trường cổ phiếu ngân hàng. Triển vọng lợi nhuận tăng trưởng tích cực, dù không còn dựa nhiều vào NIM, tiếp tục là yếu tố hỗ trợ mặt bằng định giá của nhóm cổ phiếu này trong trung hạn. Tuy nhiên, khác với giai đoạn trước, thị trường sẽ không còn nhìn nhóm ngân hàng như một “khối đồng nhất”. Thay vào đó, mức độ phân hóa giữa các cổ phiếu sẽ ngày càng rõ rệt, phản ánh sự khác biệt về cấu trúc nguồn vốn, chất lượng tài sản và chiến lược kinh doanh.
Những ngân hàng duy trì được NIM ổn định, kiểm soát tốt chi phí vốn và gia tăng hiệu quả sử dụng tài sản có khả năng tiếp tục được thị trường định giá cao hơn mặt bằng chung. Ngược lại, các ngân hàng chịu áp lực lớn từ chi phí huy động, dư địa tăng trưởng tín dụng hạn chế hoặc chất lượng tài sản kém linh hoạt sẽ đối mặt với rủi ro điều chỉnh định giá, ngay cả khi lợi nhuận danh nghĩa vẫn tăng. Điều này cho thấy, trong chu kỳ mới, cổ phiếu ngân hàng không còn là “câu chuyện của tăng trưởng tín dụng” đơn thuần, mà là chất lượng tăng trưởng.
Ở góc độ dài hạn, diễn biến NIM năm 2026 có thể được xem là phép thử cho sức bền của hệ thống ngân hàng. Khi lợi thế từ chu kỳ lãi suất không còn rõ ràng, các ngân hàng buộc phải tái định vị mô hình kinh doanh, cân bằng giữa tăng trưởng và an toàn, giữa mở rộng tín dụng và kiểm soát rủi ro. Với nhà đầu tư, đây cũng là giai đoạn cần chuyển trọng tâm từ kỳ vọng ngắn hạn sang đánh giá nền tảng dài hạn, nơi NIM không còn là con số để so sánh đơn thuần, mà là kết quả của cả một hệ sinh thái quản trị.
“Nếu năm 2025 là năm ‘NIM mỏng để tồn tại’, thì năm 2026 sẽ là năm ‘NIM đủ dùng để sàng lọc’ và chính quá trình sàng lọc đó sẽ định hình lại cả bức tranh hoạt động của ngành lẫn trật tự trên thị trường cổ phiếu ngân hàng trong giai đoạn tới”, vị tổng giám đốc trên nói.