Ảnh minh họa: Shutterstock
Khác với một cú sốc chỉ tác động đến một ngành riêng lẻ, El Nino có thể đồng thời làm thay đổi nhu cầu điện, cơ cấu huy động nguồn điện, giá hàng hóa nông nghiệp và nhu cầu phân bón. Sự phân hóa này tạo ra cả cơ hội lẫn rủi ro cho nhà đầu tư.
El Nino 2026-2027 có khả năng trở thành một trong những hiện tượng khí hậu cực đoan mạnh nhất trong hơn một thập kỷ. NOAA/CPC dự báo, hiện tượng này gần như chắc chắn duy trì trong những tháng cuối năm 2026 và kéo dài sang đầu năm 2027, với xác suất đạt cường độ rất mạnh lên tới 81% trong giai đoạn tháng 10-12/2026.
Nếu kịch bản này xảy ra, tác động đối với Việt Nam sẽ khá rõ nét: nền nhiệt cao, lượng mưa thấp, lượng nước về các hồ thủy điện suy giảm, trong khi nguy cơ hạn hán và xâm nhập mặn gia tăng tại các vùng sản xuất nông nghiệp trọng điểm. Vấn đề cần phân tích là doanh nghiệp nào được hưởng lợi từ những thay đổi này và doanh nghiệp nào phải đối mặt với chi phí gia tăng.
![]() |
Nhóm hưởng lợi rõ nhất
Ngành điện là nơi thể hiện rõ nhất sự phân hóa do El Nino. Một mặt, nắng nóng kéo dài làm nhu cầu sử dụng điện cho điều hòa, quạt và các thiết bị làm mát tăng lên. Mặt khác, khô hạn khiến sản lượng thủy điện suy giảm, buộc hệ thống phải tăng huy động nhiệt điện và các nguồn điện khác.
FPTS dự báo, nhu cầu tiêu thụ điện trong nước năm 2026 tăng 9,9%, trong đó tiêu thụ điện của nhóm quản lý và tiêu dùng dân cư tăng 10,8%. Năm 2027, tốc độ tăng dự kiến chậm lại còn 6,8% do nền so sánh cao của năm 2026.
Đáng chú ý hơn là sự thay đổi trong cơ cấu huy động. Trong các năm El Nino trước đây như 2019, 2023 và 2024, tỷ trọng thủy điện giảm từ mức bình quân khoảng 35% xuống 29%, trong khi nhiệt điện than tăng lên 48-49%. Trong giai đoạn 2026-2027, FPTS dự báo, tỷ trọng thủy điện chỉ còn 28-25%, trong khi nhiệt điện than tăng lên 50-51%.
Sản lượng thủy điện vì vậy được dự báo giảm 5,6% trong năm 2026 và 5% trong năm 2027, xuống lần lượt 100,1 tỷ kWh và 95,2 tỷ kWh. Ngược lại, sản lượng nhiệt điện than có thể tăng 21,5% trong năm 2026 và thêm 8,9% trong năm 2027.
Trong nhóm doanh nghiệp điện, POW nổi bật với cả câu chuyện El Nino và động lực từ Nhơn Trạch 3 & 4. Nhà máy điện than Vũng Áng 1, đóng góp 33,1% doanh thu thuần theo luận điểm của FPTS, được kỳ vọng tăng sản lượng huy động khi thủy điện suy giảm. Đồng thời, giá thị trường điện toàn phần (FMP) tăng nhờ tỷ trọng các nguồn điện có giá thành cao hơn, qua đó hỗ trợ biên lợi nhuận của POW.
![]() |
Không chỉ hưởng lợi từ El Nino, POW còn có động lực riêng từ Nhơn Trạch 3 & 4. FPTS dự phóng, hai nhà máy bắt đầu vận hành thương mại giúp POW ghi nhận khoảng 22.357 tỷ đồng doanh thu bán điện, 1.105 tỷ đồng doanh thu đột biến từ khoản EVN đền bù do không huy động đủ sản lượng điện hợp đồng (Qc) và 1.967 tỷ đồng doanh thu từ thu hồi tiền bán điện trong giai đoạn chạy thử. Nhờ đó, doanh thu năm 2026 dự kiến đạt 58.124 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế 4.716 tỷ đồng, đều tăng mạnh so với năm 2025.
Tuy nhiên, nhà đầu tư cũng cần nhìn xa hơn một năm. FPTS dự báo, lợi nhuận của POW năm 2027 giảm xuống 2.743 tỷ đồng khi không còn các khoản doanh thu đột biến của năm 2026 và sản lượng Nhơn Trạch 3 & 4 giảm theo lượng khí cam kết. Dù vậy, lợi nhuận vẫn cao hơn 1,8 lần mức bình quân giai đoạn thiếu khí 2023-2025.
Với HND, El Nino làm giảm sản lượng thủy điện, qua đó thúc đẩy nhu cầu huy động điện than. FPTS dự báo, sản lượng điện của HND năm 2026 tăng 10,3%, giúp doanh thu tăng 9,4% và lợi nhuận sau thuế tăng 43,6%, lên 492 tỷ đồng. Tuy nhiên, HND cũng không phải câu chuyện tăng trưởng một chiều. Năm 2027, doanh thu và lợi nhuận được FPTS dự báo giảm lần lượt 10% và 4% do giá bán điện giảm 9,4% khi giá hợp đồng thanh toán điện (Pc) điều chỉnh theo giá than đầu vào, dù sản lượng vẫn tăng 4% nhờ El Nino.
Ở nhóm năng lượng tái tạo, GEG là trường hợp đáng theo dõi. El Nino có thể kéo dài mùa khô, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho tốc độ gió tại các khu vực trọng điểm, trong khi bức xạ mặt trời và số giờ nắng tăng hỗ trợ sản lượng điện mặt trời. Doanh thu điện gió, chiếm 51,3% doanh thu dự phóng của GEG, được kỳ vọng tăng 11,1%/năm trong giai đoạn 2026-2027; doanh thu điện mặt trời chiếm 32,2% và tăng 1%/năm. FPTS dự phóng, doanh thu của GEG đạt 2.653 tỷ đồng năm 2026 và 2.883 tỷ đồng năm 2027, trong khi lợi nhuận sau thuế lần lượt đạt 511 tỷ đồng và 455 tỷ đồng.
Nhóm mía đường: Cơ hội có độ trễ
El Nino có thể làm thay đổi cơ cấu huy động nguồn điện, giá hàng hóa nông nghiệp và nhu cầu phân bón, tạo ra sự phân hóa giữa các nhóm ngành.
Nếu điện là nhóm hưởng lợi tương đối sớm, mía đường lại là câu chuyện có độ trễ. El Nino gây khô hạn trong giai đoạn gieo trồng và sinh trưởng, nhưng tác động lên sản lượng đường chỉ thể hiện rõ sau đó.
Giá đường RS tại Việt Nam có thể giảm 10,2% trong năm 2026 nhưng được dự báo bật tăng 14,6% trong năm 2027 khi nguồn cung đường toàn cầu thắt chặt - do sản lượng đường của Thái Lan, Ấn Độ và Brazil được dự báo giảm lần lượt 7,8%, 4,3% và 3%.
Doanh nghiệp đáng chú ý là QNS, với cơ cấu kinh doanh không chỉ phụ thuộc vào đường. Mảng sữa đậu nành chiếm khoảng 51% doanh thu, được dự báo tăng 20% trong năm 2026 và 6% trong năm 2027. Trong khi đó, mảng đường chiếm 30% doanh thu, dự kiến giảm 6% trong năm 2026 nhưng phục hồi 18,5% trong năm 2027.
Doanh thu của QNS có thể tăng 7,2% năm 2026 và 8,8% năm 2027. Lợi nhuận sau thuế dự kiến giảm nhẹ 1,7% trong năm 2026, xuống 1.883 tỷ đồng, trước khi phục hồi 13,1% lên 2.130 tỷ đồng trong năm 2027. Biên lợi nhuận gộp toàn doanh nghiệp được dự báo tăng từ 35,3% lên 37,3%.
Như vậy, QNS phù hợp hơn với góc nhìn đón đầu chu kỳ phục hồi giá đường năm 2027, thay vì kỳ vọng El Nino lập tức tạo cú huých cho lợi nhuận trong năm 2026.
Mặt trái: Phân bón và nông nghiệp
Nếu điện và một phần mía đường là những nhóm hưởng lợi, phân bón lại chịu tác động bất lợi. FPTS dự báo, nhu cầu tiêu thụ phân bón trong nước giảm khoảng 8,5% năm 2026 và tiếp tục giảm 3,5% năm 2027 do hạn hán, xâm nhập mặn và diện tích canh tác suy giảm. Đáng chú ý, giá phân bón hiện đã cao hơn khoảng 20-40% so với đầu năm trong bối cảnh xung đột tại Trung Đông kéo dài, khiến người nông dân càng có xu hướng tiết giảm lượng sử dụng. Đây là một ví dụ cho thấy rằng cùng một cú sốc khí hậu, tác động đến từng doanh nghiệp sẽ khác nhau tùy thuộc vào cơ cấu sản phẩm và thị trường tiêu thụ.
DCM và DPM chịu ảnh hưởng lớn hơn do sản phẩm chủ lực là urê và có tỷ trọng tiêu thụ cao tại Đồng bằng sông Cửu Long. FPTS dự báo, sản lượng tiêu thụ của DCM giảm 9,8% năm 2026 và giảm 3,6% năm 2027; DPM lần lượt giảm 9,2% và 3,5%. Ngược lại, BFC được đánh giá chịu tác động thấp hơn tương đối nhờ sản phẩm NPK chủ yếu phục vụ cây công nghiệp và cây ăn quả; sản lượng tiêu thụ dự kiến giảm 5,2% năm 2026 và giảm 2,4% năm 2027. LAS và DDV cũng ít chịu ảnh hưởng hơn nhờ cơ cấu sản phẩm và thị trường tiêu thụ.
Đây là nhóm cổ phiếu nhà đầu tư cần đặc biệt thận trọng khi xây dựng danh mục theo chủ đề El Nino. Không nên đồng nhất giá phân bón cao với lợi nhuận doanh nghiệp phân bón cao, bởi nhu cầu tiêu thụ suy giảm có thể bào mòn lợi ích từ giá bán.
El Nino có thể được xem như một chủ đề đầu tư mang tính phân hóa. Cơ hội lớn nhất nằm ở những doanh nghiệp có khả năng biến sự thiếu hụt nguồn cung thành tăng sản lượng, giá bán hoặc biên lợi nhuận. Thách thức lớn nhất lại thuộc về những doanh nghiệp mà thời tiết bất lợi trực tiếp làm suy giảm nhu cầu. Việc nhận diện dòng tiền và lợi nhuận sẽ dịch chuyển về đâu khi thời tiết thay đổi là điều đáng để nhà đầu tư theo dõi trong 12-18 tháng tới.

