Doanh nghiệp rất mong các luật về đầu tư, kinh doanh sửa đổi thuận lợi cho hoạt động. Trong ảnh: Chế biến sản phẩm tại Công ty Thủy sản Tây Đô. Ảnh: Lê Toàn
Hàng trăm thủ tục hành chính, hàng ngàn điều kiện kinh doanh được cắt giảm, bãi bỏ hoặc thay thế bằng phương thức quản lý mới, chỉ là phần dễ nhìn thấy của đợt rà soát, sửa đổi hệ thống pháp luật nhằm thể chế hóa các nghị quyết của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp và đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện đầu tư kinh doanh.
Phía sau mỗi điều luật là những cuộc tranh luận, giằng co, thậm chí va đập về tư duy quản lý nhà nước, về mối quan hệ giữa Nhà nước và doanh nghiệp, giữa yêu cầu quản lý và đòi hỏi của thực tiễn phát triển.
Bài 1: Cơ hội trước “giờ G”
Khi các dự thảo luật bước vào chặng hoàn thiện cuối cùng trước khi trình Quốc hội tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất sẽ diễn ra vào đầu tháng 8 tới, doanh nghiệp cũng bước vào “giờ G” của mình. Họ không chỉ muốn góp những giải pháp tháo gỡ vướng mắc, mà là thực tiễn kinh doanh vào trong từng điều luật.
Khoảng trống giữa các đạo luật
Đồng hồ đã gần 11 giờ 30. Sau hơn 3 giờ lắng nghe ý kiến của doanh nghiệp và các hiệp hội ngành hàng, Ban soạn thảo Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường cũng sắp kết thúc phần giải trình.
Đúng lúc đó, ông Nguyễn Hoài Nam, Tổng thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) bước nhanh vào hội trường. Trước đó, khi vẫn đang trên đường tới cuộc họp, ông Nam nhiều lần nhắn Ban Tổ chức xin giữ quyền phát biểu.
"Chúng tôi đã gửi văn bản góp ý rồi, nhưng vẫn muốn trao đổi trực tiếp. Vẫn còn những khoảng trống pháp lý mà nếu không sửa ngay lần này, trong luật, doanh nghiệp sẽ phải chờ rất lâu", ông Nam mở đầu sau khi xin Hội nghị 3 phút.
Cuộc họp hôm ấy không giống hội thảo lấy ý kiến doanh nghiệp thông thường.
Tham dự có lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Ban Soạn thảo, các đơn vị chuyên môn của Bộ, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), các hiệp hội ngành hàng và doanh nghiệp. Đặc biệt, cùng tham gia tổ chức Hội thảo có cả Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội - cơ quan sẽ thực hiện thẩm tra Dự án Luật.
Theo kế hoạch, ngay sau cuộc họp này, Dự thảo sẽ nhanh chóng được hoàn thiện để kịp trình Quốc hội theo quy trình rút gọn tại Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, dự kiến diễn ra vào đầu tháng 8. Quỹ thời gian thảo luận của Dự thảo còn lại chỉ tính bằng ngày.
Với nhiều doanh nghiệp và hiệp hội ngành hàng hoạt động trong lĩnh vực liên quan tới 10 văn bản luật trên, đây gần như là cơ hội cuối để phản ánh trực tiếp những vướng mắc trong quá trình thực thi tới Ban soạn thảo trước khi Dự thảo được trình Quốc hội. Sự sốt sắng của ông Nguyễn Hoài Nam cũng có phần từ lý do đó.
"Thị trường xuất khẩu đang biến động rất nhanh. Hôm nay, doanh nghiệp nhập nguyên liệu để chế biến xuất khẩu, nhưng vài tháng sau, đơn hàng có thể thay đổi, buộc phải chuyển một phần sang tiêu thụ trong nước hoặc ngược lại. Đây là thực tiễn rất phổ biến trong thương mại quốc tế, cũng là quyền kinh doanh của doanh nghiệp, nhưng chúng tôi đang không làm được", ông Nam nói.
Thực tế, kiến nghị mà VASEP đặc biệt nhấn mạnh này là vướng mắc đã tồn tại nhiều năm. Đó là thiếu cơ chế pháp lý cho phép nguyên liệu thủy sản nhập khẩu được chuyển đổi mục đích sử dụng giữa chế biến xuất khẩu và tiêu thụ nội địa.
Vấn đề là, theo VASEP, pháp luật hải quan đã có quy định cho tình huống này từ năm 2018, quy định tại Nghị định số 59/2018/NĐ-CP và Thông tư số 39/2018/TT-BTC. Theo đó, doanh nghiệp được phép chuyển mục đích sử dụng hàng hóa nhập khẩu nếu khai báo lại và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo loại hình mới.
Tuy nhiên, Luật Thú y và các văn bản pháp luật chuyên ngành thú y lại chưa có quy định về nội dung, trình tự, thủ tục kiểm dịch đối với lô hàng thủy sản nhập khẩu khi thay đổi mục đích sử dụng sau nhập khẩu. Vì vậy, VASEP đã nhiều lần đề nghị bổ sung quy định cho phép sản phẩm động vật, sản phẩm thủy sản nhập khẩu được chuyển đổi mục đích sử dụng giữa sản xuất xuất khẩu, gia công xuất khẩu và tiêu thụ nội địa.
Lần này, đại diện các doanh nghiệp chế biến thủy sản còn đưa phương án cụ thể hơn, đó là đề xuất giao Chính phủ quy định cụ thể về hồ sơ, trình tự, thủ tục và trách nhiệm của doanh nghiệp.
Theo Hiệp hội, cách tiếp cận trên vừa bảo đảm yêu cầu kiểm dịch, phòng, chống dịch bệnh và truy xuất nguồn gốc, vừa tạo cơ sở pháp lý để xử lý những tình huống phát sinh từ thực tiễn.
"Vướng mắc này, theo tôi biết, không chỉ doanh nghiệp chế biến thủy sản, mà cả doanh nghiệp chế biến tiêu, điều xuất khẩu... cũng phải đối mặt", ông Nam nói thêm.
Đó không phải là kiến nghị duy nhất VASEP gửi tới Ban soạn thảo. Song, câu chuyện về những lô nguyên liệu chưa thể chuyển đổi mục đích sử dụng, đang tiếp tục lưu kho, chờ đơn hàng phù hợp hoặc buộc phải tái xuất cũng như các khoản chi phí, nguồn lực mà doanh nghiệp buộc phải gánh do thiếu khung chính sách khiến phần giải trình ý kiến, kiến nghị của doanh nghiệp chưa thể khép lại.
Trăn trở từ những lô hàng bị trả lại
Tại cuộc làm việc, Ban soạn thảo Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện đầu tư, kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường đã công bố nhiều con số rất đáng chú ý. Đó là cắt giảm 38 thủ tục hành chính, đơn giản hóa 13 thủ tục, bãi bỏ 40 điều kiện đầu tư kinh doanh. Tính hiệu quả, các phương án này cắt giảm khoảng 904 ngày và tiết kiệm gần 190 tỷ đồng chi phí tuân thủ thủ tục hành chính mỗi năm so với năm 2024...
Những con số trên cho thấy phần nào quy mô của đợt cải cách thủ tục hành chính, cắt giảm điều kiện kinh doanh mà Chính phủ đang thực hiện rốt ráo, với những yêu cầu và mục tiêu rất cao.
Nhưng điều doanh nghiệp muốn đặt lên bàn thảo luận hơn cả không chỉ là những con số thống kê mà là những câu hỏi trực diện. Liệu những thay đổi của pháp luật có giúp doanh nghiệp giảm rủi ro, thích ứng tốt hơn với thị trường và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu hay không? Tác động của các phương án cắt giảm có còn gì ngoài việc giảm thời gian, chi phí tuân thủ hay không?
"Mọi sửa đổi trong Luật Bảo vệ và Kiểm dịch thực vật cần được thiết kế không chỉ để cấp phép nhanh hơn, mà để thu hẹp khoảng cách tiêu chuẩn với thị trường xuất khẩu ngay từ khâu đăng ký trong nước", bà Phạm Thị Kim Liên, Giám đốc phát triển bền vững Vnagrifood đề xuất.
Bà Liên kể, nhiều lô nông sản của Việt Nam gặp khó ở thị trường xuất khẩu không phải vì doanh nghiệp không đáp ứng quy định trong nước, mà vì tiêu chuẩn trong nước và tiêu chuẩn của các thị trường nhập khẩu ngày càng có khoảng cách. Đơn cử, tiêu chuẩn của Việt Nam đối với một số hoạt chất như Chlorpyrifos hiện cao hơn mức mà nhiều thị trường nhập khẩu chấp nhận; với nhóm hoạt chất neonicotinoid như Clothianidin, khoảng cách chủ yếu đến từ nguyên tắc “phòng ngừa gần như bằng không” mà Liên minh châu Âu (EU) đang áp dụng. Đây chính là nguồn gốc trực tiếp của tình trạng nông sản Việt Nam bị trả lô, giảm giá hoặc mất thị trường
Vì vậy, bà Liên đề nghị ngay từ khâu đăng ký thuốc bảo vệ thực vật, cơ quan quản lý cần đồng thời đối chiếu với quy định của các thị trường xuất khẩu, ít nhất là 4 thị trường chủ lực của nông sản Việt Nam, gồm Trung Quốc, EU, Nhật Bản và Hoa Kỳ. Nếu một hoạt chất vẫn được phép sử dụng tại Việt Nam, nhưng đã bị các thị trường hạ ngưỡng dư lượng hoặc thay đổi điều kiện sử dụng, doanh nghiệp cần được cảnh báo ngay từ khi đăng ký. Như vậy, hoạt động đăng ký trong hình dung của các doanh nghiệp tới đây sẽ không dừng ở các thủ tục cấp phép của cơ quan quản lý nhà nước, mà phải trở thành công cụ giúp doanh nghiệp phòng ngừa rủi ro thương mại ngay từ đầu chuỗi sản xuất.
"Nếu không, các thủ tục dù được thiết kế thông minh đến đâu cũng không giải được điều cốt lõi là hàng hóa không tham gia được vào chuỗi cung ứng toàn cầu", bà Liên thẳng thắn.
Đặc biệt, Vnagrifood kiến nghị thiết lập cơ chế công nhận lẫn nhau đối với kết quả kiểm nghiệm của các phòng thử nghiệm đạt chuẩn quốc tế nhằm giảm tình trạng kiểm tra trùng lặp trước khi hàng hóa đến thị trường nhập khẩu...
Điều các doanh nghiệp thực sự cần lúc này không chỉ là quy định đơn giản, rõ ràng hơn, thực thi thuận lợi hơn, mà là tư duy xây dựng pháp luật phải gắn với thực tiễn thị trường, theo sát sự vận động của hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Cuộc cải cách chưa từng có về thủ tục hành chính
Tính từ đầu năm đến ngày 13/6/2026, Chính phủ đã ban hành 11 nghị quyết, cùng các thông tư của bộ, ngành, bãi bỏ 697 thủ tục hành chính, đơn giản hóa 673 thủ tục và cắt giảm 1.754 điều kiện đầu tư, kinh doanh.
Theo tính toán, thời gian giải quyết thủ tục hành chính giảm 53% (tương đương 51.247/96.675 ngày), chi phí tuân thủ giảm 54,6% so với năm 2024. Riêng 11 nghị quyết dự kiến giúp tiết kiệm khoảng 23.000 tỷ đồng chi phí tuân thủ mỗi năm.
Để thể chế hóa các phương án cải cách, các bộ, ngành phải sửa đổi, bổ sung 312 văn bản quy phạm pháp luật, gồm 61 luật, 198 nghị định, 6 quyết định của Thủ tướng Chính phủ và 47 thông tư, bảo đảm có hiệu lực trước ngày 1/3/2027.
(Còn tiếp)