Ngành ngân hàng: Lợi nhuận quý III tăng, áp lực vẫn hiện hữu

(ĐTCK) Lợi nhuận quý III/2026 của ngành ngân hàng ước tính tăng trưởng hai chữ số nhờ tín dụng mở rộng và thu nhập lãi thuần cải thiện. Tuy nhiên, áp lực chi phí vốn, biên lãi ròng chịu sức ép cùng những dấu hiệu cần lưu ý về chất lượng tài sản là những vấn đề ngành ngân hàng đang phải đối mặt.
Chênh lệch giữa tăng trưởng tín dụng và huy động vốn vẫn đặt ra yêu cầu cân đối thanh khoản và cơ cấu nguồn vốn với ngành ngân hàng

Biên lãi ròng vẫn chịu sức ép

Theo bà Trần Thị Khánh Hiền, Giám đốc Khối Nghiên cứu Công ty Chứng khoán MB (MBS), triển vọng kinh doanh ngân hàng quý III/2026 tiếp tục tích cực với lợi nhuận sau thuế của các ngân hàng niêm yết trong phạm vi theo dõi của MBS dự kiến tăng 19,1% so với cùng kỳ năm trước.

Trong khi đó, Công ty Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) dự phóng tổng lợi nhuận trước thuế của 11 ngân hàng trong danh mục quan tâm của công ty này đạt 85.226 tỷ đồng, tăng 23% so với cùng kỳ, nhưng giảm 7% so với quý trước đó. Lũy kế 9 tháng, lợi nhuận trước thuế của nhóm này ước đạt 251.831 tỷ đồng, tăng 26% so với cùng kỳ, tương đương 75% kế hoạch cả năm.

Động lực chính cho đà tăng trưởng lợi nhuận của ngành ngân hàng, theo giới phân tích, vẫn đến từ tín dụng. Cụ thể, VDSC dự báo dư nợ của nhóm ngân hàng theo dõi tăng khoảng 13% so với đầu năm và tăng 18,6% so với cùng kỳ năm trước; thu nhập lãi thuần quý III tăng 23% so với cùng kỳ, đóng góp khoảng 80% doanh thu của danh mục. Còn theo bà Trần Thị Khánh Hiền, tín dụng của các ngân hàng trong phạm vi theo dõi ước tính tăng khoảng 12% so với đầu năm.

Đáng chú ý, nhóm ngân hàng có vốn Nhà nước chi phối được chuyên gia MBS dự báo tăng thu nhập lãi thuần 22,1%, cao hơn mức 14,1% của nhóm ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân. Chi phí trích lập dự phòng của nhóm ngân hàng có vốn Nhà nước chi phối dự kiến giảm 18,5% so với cùng kỳ, trong khi nhóm tư nhân tăng 28,8%. Sự khác biệt này cho thấy triển vọng lợi nhuận không chỉ phụ thuộc vào tăng trưởng tín dụng, mà còn chịu tác động đáng kể từ chi phí dự phòng và đặc điểm danh mục cho vay của từng nhóm ngân hàng.

Dù vậy, mở rộng dư nợ chưa bảo đảm biên lợi nhuận cải thiện tương ứng. VDSC dự báo biên lãi ròng (NIM) quý III/2026 của các ngân hàng trong danh mục theo dõi giảm 3 điểm cơ bản so với quý trước đó, xuống 3,18%, dù vẫn cao hơn 10 điểm cơ bản so với cùng kỳ. Áp lực huy động vốn trong khi lãi suất cho vay khó tăng tương ứng tiếp tục là thách thức đối với khả năng duy trì hiệu quả sinh lời.

Sức ép còn thể hiện ở tương quan giữa tín dụng và huy động. Tính đến ngày 23/9/2026, tín dụng toàn hệ thống tăng 10,37% so với đầu năm. Trong danh mục ngân hàng được VDSC theo dõi, huy động vốn tăng 3,8% trong quý III, còn tín dụng tăng 1,9% trong cùng khoảng thời gian. Chênh lệch này đặt ra yêu cầu cân đối nguồn vốn chặt chẽ hơn, bởi cạnh tranh huy động có thể đẩy chi phí đầu vào lên và tiếp tục bào mòn NIM.

Theo ông Nguyễn Anh Quân, Trưởng Bộ phận Xếp hạng Khối Định chế Tài chính FiinRatings, diễn biến hoạt động của ngành ngân hàng nửa đầu năm 2026 cho thấy khả năng sinh lời cần được nhìn nhận cùng áp lực lên biên lãi và chất lượng tài sản. NIM toàn ngành ở mức 2,8% trong quý I/2026, thấp hơn mức 2,9% trong năm 2025 và 3,5% trong năm 2024. Trong bối cảnh tín dụng tiếp tục tăng, bài toán của ngân hàng không chỉ là mở rộng dư nợ mà còn phải kiểm soát chi phí vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.

Nguồn thu ngoài lãi phần nào hỗ trợ kết quả kinh doanh của ngành ngân hàng trong năm 2026. Theo ông Quân, thu nhập phí và hoa hồng thuần trong 6 tháng đầu năm toàn ngành tăng khoảng 49,7% so với cùng kỳ, đạt 53.000 tỷ đồng. Tuy nhiên, mức độ đóng góp còn tùy thuộc cơ cấu kinh doanh và năng lực phát triển dịch vụ của từng ngân hàng, chưa thể thay thế vai trò chủ đạo của thu nhập lãi trong toàn ngành.

Bộ đệm dự phòng mỏng, áp lực vẫn hiện hữu

Theo VDSC, tỷ lệ nợ xấu của nhóm ngân hàng theo dõi dự kiến đi ngang ở mức 1,65% trong quý III/2026. Nợ xấu hình thành ròng được dự báo giảm còn 31.600 tỷ đồng, tương đương 0,25% dư nợ, so với mức 41.100 tỷ đồng, tương đương 0,34% trong quý II. Tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLR) được kỳ vọng phục hồi lên 92%, từ mức 90% của quý trước đó.

Tuy nhiên, chi phí dự phòng nợ xấu trong quý III của nhóm này vẫn được VDSC dự báo tăng 23% so với cùng kỳ năm trước, lên 35.800 tỷ đồng. Nợ nhóm 2 tại một số ngân hàng cũng là dấu hiệu cần theo dõi: tỷ lệ này tại HDBank lên 4,7%, so với 2,58% trong quý I; tại VPBank là 3,17%. Nợ nhóm 2 chưa phải nợ xấu, nhưng diễn biến tăng có thể báo hiệu áp lực trả nợ của khách hàng và nguy cơ phát sinh nợ xấu trong các kỳ sau.

Một chỉ báo khác là lãi và phí dự thu trong danh mục ngân hàng được VDSC theo dõi tăng 40% so với cùng kỳ, nhanh gấp đôi tốc độ tăng dư nợ 19%. Mức tăng này không đồng nghĩa các khoản phải thu sẽ trở thành nợ khó đòi, nhưng đòi hỏi ngân hàng theo sát khả năng thu hồi thực tế, tránh để thu nhập ghi nhận trên sổ sách đi xa dòng tiền thu về.

Ông Anh Quân nhận định: “Khả năng chống chịu của chất lượng tài sản đang suy yếu khi rủi ro tín dụng tăng nhanh hơn bộ đệm dự phòng”.

Dữ liệu của FiinRatings cho thấy, nợ xấu toàn ngành ngân hàng tại thời điểm cuối quý II/2026 duy trì quanh mức 1,9%, trong khi nợ cần chú ý tăng lên 1,3%. Tỷ lệ bao phủ nợ xấu giảm còn 80%, mức thấp nhất trong 5 năm theo đánh giá của FiinRatings. Bộ đệm dự phòng suy giảm không có nghĩa nợ xấu chắc chắn tăng, nhưng có thể làm hạn chế khả năng hấp thụ tổn thất nếu chất lượng khoản vay xấu đi và ngân hàng phải tăng trích lập.

Rủi ro tập trung tín dụng cũng cần được quan sát, nhất là ở lĩnh vực bất động sản. Đến cuối tháng 6/2026, dư nợ tín dụng bất động sản đạt 5,25 triệu tỷ đồng, tương đương 26,3% tổng tín dụng toàn hệ thống. Trong đó, cho vay kinh doanh bất động sản tăng 26% so với đầu năm, lên 2,52 triệu tỷ đồng; cho vay bất động sản phục vụ tiêu dùng tăng 6%, lên 2,73 triệu tỷ đồng.

Quy mô tín dụng lớn không đồng nghĩa với rủi ro cao, nhưng chất lượng khoản vay phụ thuộc vào dòng tiền của chủ đầu tư, sức mua nhà ở và khả năng trả nợ của người vay. Khi nguồn cung, khả năng hấp thụ và chi phí vay có diễn biến khác nhau giữa các phân khúc, ngân hàng cần kiểm soát cơ cấu cho vay và mức độ tập trung, thay vì chỉ theo dõi tốc độ tăng trưởng dư nợ.

Ngoài dư nợ trên bảng cân đối, tín dụng ngoại bảng quy đổi tăng 24% so với cùng kỳ, lên 3.243.000 tỷ đồng, tương đương 18% tổng dư nợ cho vay khách hàng. Đây cũng là phần cần được tính đến khi đánh giá mức độ cam kết tín dụng và những nghĩa vụ tiềm tàng của ngân hàng.

Áp lực nguồn vốn càng khiến yêu cầu quản trị rủi ro trở nên cấp thiết. Theo FiinRatings, tỷ lệ tín dụng/GDP đã vượt 150%; chênh lệch tín dụng - tiền gửi tại 30 ngân hàng tại thời điểm cuối tháng 6/2026 lên tới 1.673.000 tỷ đồng. Khi tín dụng tăng nhanh hơn huy động, cạnh tranh nguồn vốn có thể tiếp tục gây sức ép lên chi phí đầu vào, đồng thời thu hẹp dư địa cải thiện NIM.

Dù vậy, triển vọng không hoàn toàn theo chiều hướng tiêu cực. Theo báo cáo điều tra xu hướng kinh doanh các tổ chức tín dụng quý IV/2026 của Ngân hàng Nhà nước, các tổ chức tín dụng đánh giá thanh khoản hệ thống trong quý III ở mức tốt và kỳ vọng tiếp tục cải thiện trong quý IV. Các đơn vị tham gia khảo sát cũng kỳ vọng tỷ lệ nợ xấu cải thiện vào cuối năm, dù rủi ro khách hàng trong quý III vẫn tăng nhẹ và dự kiến tiếp tục tăng chậm hơn trong quý IV.

Khảo sát cũng ghi nhận kỳ vọng tăng trưởng tín dụng bình quân cả năm 2026 đạt 16,4%, trong khi huy động vốn tăng 14,3%. Đây là triển vọng hỗ trợ cung ứng vốn cho nền kinh tế, nhưng chênh lệch giữa hai tốc độ tăng trưởng vẫn đặt ra yêu cầu cân đối thanh khoản và cơ cấu nguồn vốn.

Lợi nhuận tăng trưởng hai chữ số là tín hiệu tích cực, song chưa đủ để khẳng định chất lượng tăng trưởng đã vững chắc. Khi tín dụng vẫn là động lực chính, khả năng kiểm soát chi phí vốn, thu hồi nợ, duy trì bộ đệm dự phòng và hạn chế rủi ro tập trung sẽ quyết định độ bền của lợi nhuận. Thước đo chất lượng hoạt động của ngân hàng không chỉ là việc thu được bao nhiêu lợi nhuận, mà còn là chất lượng dòng tiền và khả năng bảo toàn vốn trước những biến động của nền kinh tế.

Nhuệ Mẫn

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục