Mỹ áp thuế Mục 301 lên 60 nền kinh tế: Việt Nam không hoàn toàn bất lợi

0:00 / 0:00
0:00
(ĐTCK) Chính quyền Tổng thống Donald Trump vừa kích hoạt một đợt thuế quan mới đánh vào hàng nhập khẩu từ 60 nền kinh tế sau cuộc điều tra theo Điều 301 của Đạo luật Thương mại 1974. Hàng hóa Việt Nam nằm trong nhóm chịu mức thuế 12,5%.
TS. Nguyễn Tú Anh, Đại học VinUni TS. Nguyễn Tú Anh, Đại học VinUni

Quyết định được Đại diện Thương mại Mỹ (USTR) Jamieson Greer ký ngày 23/7, theo chỉ đạo trực tiếp của Tổng thống Trump, sau khi kết thúc 60 cuộc điều tra theo Điều 301 của Đạo luật Thương mại 1974. Các cuộc điều tra này khởi động từ tháng 3/2026, trải qua hai vòng điều trần công khai, hơn 2.100 ý kiến đóng góp và tham vấn với hơn 45 chính phủ đối tác. Nhóm 60 nền kinh tế bị đánh thuế chiếm tới 99,4% tổng kim ngạch nhập khẩu của Mỹ.

Đợt thuế mới có ý nghĩa đặc biệt về mặt pháp lý. Trước đó, các mức thuế "có đi có lại" mà ông Trump áp lên gần như toàn bộ thế giới theo Đạo luật Quyền hạn Kinh tế Khẩn cấp Quốc tế (IEEPA) đã bị Tòa án Tối cao bác bỏ hồi tháng 2/2026, buộc chính quyền phải hoàn thuế cho các nhà nhập khẩu. Ông Trump sau đó chuyển sang áp thuế 10% toàn cầu theo Điều 122 của Đạo luật Thương mại - nhưng công cụ này chỉ có hiệu lực tối đa 150 ngày và hết hạn vào rạng sáng 24/7.

Mục 301 được xem là "chỗ dựa" pháp lý vững chắc hơn. Đây chính là điều luật mà ông Trump từng dùng để áp thuế lên Trung Quốc trong nhiệm kỳ đầu, và các mức thuế đó đã vượt qua các thách thức pháp lý tại tòa. Căn cứ để áp dụng mục này mà Chính quyền Trump đưa ra là các nước, bao gồm EU, Thụy Sĩ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Canada,… không có biện pháp đủ mạnh để ngăn ngừa các sản phẩm hình thành từ lao động cưỡng bức đưa vào thị trường. Đây rõ ràng đây chỉ là cái cớ. Tuy nhiên, nhiều khả năng tòa án sẽ không bác bỏ quyền áp thuế này của Chính quyền như đã từng làm với Trung Quốc.

Việt Nam chịu mức thuế 12,5%

USTR chia 60 nền kinh tế thành hai bậc dựa trên mức độ hợp tác. Những nước đã ban hành lệnh cấm nhập khẩu hàng lao động cưỡng bức, hoặc đã cam kết làm điều đó thông qua một Thỏa thuận Thương mại Có đi có lại (Agreement on Reciprocal Trade), chịu mức 10%. Nhóm này gồm 17 nền kinh tế: Argentina, Bangladesh, Campuchia, Canada, Ecuador, El Salvador, Guatemala, Honduras, Ấn Độ, Indonesia, Jordan, Malaysia, Mexico, Pakistan, Sri Lanka, Anh và Trinidad & Tobago.

Nhóm còn lại - những nước chưa có cam kết như vậy - chịu mức 12,5%. Việt Nam thuộc nhóm này. Riêng EU, Đài Loan (Trung Quốc), Nhật Bản, Hàn Quốc và Thụy Sĩ được hưởng cơ chế lựa chọn mức tối đa (net of MFN), tức là các nước này chỉ bị áp thuế hoặc theo MFN hoặc theo Mục 301 tùy theo mức nào cao hơn. Trong khi các nước còn lại, trong đó có Việt Nam chịu mức thuế cộng dồn: MFN + thuế 301. Với một số mặt hàng có MFN 16,5% - như quần áo may sẵn sẽ chịu tổng cộng 29%, trong khi cùng mặt hàng đó từ Nhật Bản và EU chỉ bị chặn ở 16,5%. Rất may các nền kinh tế này không phải là đối thủ trực tiếp của Việt Nam trên thị trường quốc tế. Nên mức chênh lệch này không ảnh hưởng đến Việt Nam.

Tác động lên hàng xuất khẩu Việt Nam

Ngoài mức 12,5% và thuế MFN cơ bản, hàng Việt Nam vẫn phải gánh các loại thuế hiện hữu khác. Các mặt hàng thuộc diện Mục 232 - thép, nhôm, ô tô và linh kiện, đồng - được loại khỏi mức 12,5%, nhưng thay vào đó phải chịu thuế 232 cao hơn nhiều, dao động từ 25% đến 50%. Các sản phẩm đang bị áp thuế chống bán phá giá và chống trợ cấp (một số loại thép, đồ gỗ, pin mặt trời...) cũng tiếp tục chịu các khoản này.

Danh mục miễn trừ trong Thông báo trên Công báo Liên bang có bao gồm nguyên liệu thô mà nếu bị đánh thuế sẽ gây thiếu hụt nguồn cung nội địa Mỹ, các sản phẩm có thể gây "gián đoạn toàn nền kinh tế", và hàng hóa Mỹ không thể tự sản xuất đủ. Tuy nhiên, Việt Nam không nằm trong nhóm được hưởng hạn ngạch thuế quan (TRQ) ưu đãi cho dệt may và bông - vốn dành riêng cho Bangladesh, Campuchia, Indonesia và Malaysia - nên ngành dệt may Việt Nam chịu trọn 12,5%.

Việt Nam ở đâu so với khu vực?

So với các đối thủ cạnh tranh trực tiếp trong khu vực, Việt Nam ở vào thế bất lợi. Indonesia, Malaysia, Ấn Độ và Pakistan đều chỉ chịu 10% nhờ đã cam kết hoặc ban hành lệnh cấm nhập hàng do lao động cưỡng bức sản xuất. Thái Lan và Philippines chịu 12,5% - ngang bằng Việt Nam.

Indonesia và Malaysia còn được thêm ưu đãi TRQ dệt may. Để hạ xuống mức 10%, Việt Nam sẽ cần ký một cam kết ràng buộc về cấm nhập khẩu hàng lao động cưỡng bức thông qua Thỏa thuận Thương mại Có đi có lại với Mỹ - con đường mà nhiều nước láng giềng đã chọn.

Tuy nhiên, đợt thuế này lại củng cố vị thế tương đối của Việt Nam so với đối thủ lớn nhất. Trung Quốc cũng nằm trong nhóm 60 và cũng chịu 12,5%, nhưng chồng lên nền thuế vốn đã rất cao: hàng may mặc Trung Quốc hiện gánh khoảng 34% (MFN ~16,5% cộng Mục 301 cũ và phụ thu). Cộng thêm 12,5% mới, dệt may Trung Quốc vào Mỹ có thể lên tới 37–40%, so với khoảng 29% của Việt Nam và 26,5% của nhóm 10%. Khoảng cách 8–10 điểm phần trăm mà Việt Nam vẫn giữ được so với Trung Quốc là rất đáng kể.

Nói cách khác, đối thủ thực sự của Việt Nam không còn là Trung Quốc, mà là các nước ASEAN và Ấn Độ và các nước trong nhóm 10% đang cùng nhau chia lại thị phần.

Mức ảnh hưởng tới Việt Nam

Việt Nam đã có khung pháp lý chống lao động cưỡng bức đầy đủ (Bộ luật Lao động 2019 khoản 10 Điều 3 và Điều 8; phê chuẩn Công ước ILO số 29 từ 2007), nhưng cái USTR yêu cầu cho bậc 10% là một cơ chế cấm nhập khẩu tại biên giới. Nếu làm được, Việt Nam xóa bỏ bất lợi 2,5 điểm và trở lại ngang mặt bằng khu vực. Việt Nam đã chính thức có quy định nghiêm cấm nhập khẩu hàng hóa được sản xuất bằng lao động cưỡng bức theo Nghị định số 292/2026/NĐ-CP ngày 22/7/2026. Nghị định ra sau khi Mỹ đã điều tra xong.

Kịch bản nhiều khả năng nhất là Mỹ điều chỉnh Việt Nam từ 12,5% xuống 10% trong ngắn hạn, một khi nghị định có hiệu lực (05/9/2026) và hai bên hoàn tất ghi nhận qua Thỏa thuận Thương mại Có đi có lại. Cơ chế phân bậc của USTR vốn được thiết kế linh hoạt để "thưởng" cho các nước ban hành lệnh cấm nhập khẩu - và thực tế USTR cũng thừa nhận nhiều nền kinh tế đã hạ bậc nhờ hành động tương tự trong quá trình điều tra. Rào cản còn lại chủ yếu là thủ tục và tiến độ đàm phán, chứ không phải bất đồng về bản chất chính sách.

Trong kịch bản đó, mức độ ảnh hưởng lên kinh tế Việt Nam được đánh giá là không cao, vì bốn lý do:

Thứ nhất, chênh lệch phải chịu chỉ là 2,5 điểm phần trăm và nhiều khả năng chỉ mang tính tạm thời trước khi được điều chỉnh về 10%.

Thứ hai, ngay cả ở mức 12,5%, Việt Nam vẫn giữ lợi thế 8-10 điểm so với Trung Quốc - đối thủ lớn nhất - nên logic dịch chuyển "Trung Quốc + 1" không bị đảo ngược.

Thứ ba, sức cạnh tranh của Việt Nam chủ yếu dựa trên năng suất, hạ tầng và độ sâu chuỗi cung ứng chứ không phải chênh lệch thuế vài điểm, thể hiện qua việc Việt Nam vẫn dẫn đầu thị phần dệt may vào Mỹ bất chấp thuế cao hơn một số nước.

Thứ tư, phần lớn tác động thuế cuối cùng được chia sẻ giữa nhà nhập khẩu, nhà bán lẻ Mỹ và người tiêu dùng, chứ không dồn hết lên nhà xuất khẩu Việt Nam. Rủi ro thực sự cần theo dõi nằm ở nơi khác: khả năng mở rộng Section 232 và cuộc điều tra 301 về "sản xuất dư thừa" nhắm vào 16 quốc gia.

Do chỉ có tính chất ngắn hạn nên môi trường đầu tư hầu như không bị ảnh hưởng mà còn có khả năng được hưởng lợi. Khi mặt bằng thuế về mức 10% như tất cả các đối thủ tiềm tàng khác của Việt Nam thì các lợi thế về độ sâu chuỗi cung ứng, logistics, hạ tầng của Việt Nam sẽ phát huy tác dụng như đã cho thấy trong 6 tháng đầu năm 2026.

TS. Nguyễn Tú Anh
Đại học VinUni

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục