Một Việt Nam đang rất khác trong chu kỳ mới của phát triển

0:00 / 0:00
0:00
Tham vọng chưa từng có, cơ hội tuyệt đối của Việt Nam để sánh vai với các cường quốc là những điều mà PGS-TS. Trần Đình Thiên, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam muốn nhấn mạnh trong thời điểm mà ông gọi là điểm bắt đầu của kỷ nguyên mới.

MỘT VIỆT NAM RẤT KHÁC

Từng gọi mục tiêu tăng trưởng 2 con số trong khoảng 10-15 năm là “nhiệm vụ đầy tính bất khả thi”- không chỉ với Việt Nam mà cả thế giới, hầu như chưa có nền kinh tế nào đạt được, nhưng PGS-TS. Trần Đình Thiên cũng nói, nếu không đặt ra bây giờ để làm thì sẽ không bao giờ đạt được.

“Chúng ta đang trong một bối cảnh rất khác, cấu trúc nền kinh tế và cả bối cảnh kinh tế toàn cầu để bàn về những tham vọng chưa từng có”, TS. Thiên phân tích.

PGS-TS. Trần Đình Thiên, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam
PGS-TS. Trần Đình Thiên, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam

Mục tiêu tăng trưởng trên 10% trong giai đoạn 5 năm 2026-2030 và có thể dài hơn, tới năm 2045 thực sự là tham vọng chưa từng có. Chúng ta chưa bao giờ đạt được điều này trong 40 năm qua, thưa ông?

Cũng chưa bao giờ chúng ta có đà và thế để nói về tham vọng này như vào lúc này. Tính bất khả thi cao của tham vọng tăng trưởng không có nghĩa là bất khả thi.

Đúng là trong 40 năm qua, khi quy mô nền kinh tế còn nhỏ, dư địa cải cách lớn, chưa năm nào chúng ta đạt được tốc độ tăng trưởng 10%, chưa nói hơn. Trong giai đoạn đó, bản thân tôi cũng đã từng kỳ vọng, Việt Nam có thể đạt được tốc độ tăng trưởng 10%, thậm chí là 15%. Nhưng thực sự là bất khả thi. Mức cao nhất đạt được chỉ là 9,65 vào năm 1996.

Nhưng tại thời điểm này, Việt Nam đã khác và đang rất khác.

Thứ nhất, tư duy, mô hình phát triển, động lực tăng trưởng của nền kinh tế đã khác, thậm chí khác hẳn.

Động lực chính của nền kinh tế là khu vực kinh tế tư nhân với Nghị quyết 68-NQ/TW (về phát triển kinh tế tư nhân). Với Nghị quyết 57-NQ/TW (về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia), lực lượng sản xuất quyết định sự phát triển của nền kinh tế là đổi mới sáng tạo, trí tuệ nhân tạo, chứ không phải là lao động gia công, lắp ráp. Lợi thế phát triển đã không còn là lao động rẻ, kỹ năng thấp, năng suất thấp.

40 năm trước, chúng ta không có khái niệm kinh tế số, kinh tế xanh, chưa có khái niệm công nghệ cao; nhưng hiện tại, đây chính là cấu trúc mới, đẳng cấp mới của nền kinh tế Việt Nam.

Thứ hai, cách thức vận hành nền kinh tế thay đổi hoàn toàn.

Tôi đã từng đặt vấn đề này trong nhiều cuộc họp, diễn đàn rằng, mục tiêu tăng trưởng 2 con số của giai đoạn tới không đơn thuần là vấn đề tốc độ, mà nó gắn chặt với mục tiêu chất lượng, với mục tiêu thay đổi đẳng cấp của nền kinh tế - lên kinh tế số, công nghệ cao, đổi mới sáng tạo, kinh tế xanh. Cái đó hàm nghĩa thực chất của khái niệm “kỷ nguyên mới”, “vươn mình”. Nếu vẫn giữ tư duy cũ, chỉ “chỉnh sửa”, “nâng cấp” hay “cơi nới” mô hình dù đã làm nên thành công trong 40 năm qua sẽ không thể đạt được mục tiêu “tiến vượt” để “sánh vai cùng thế giới”.

Vậy, câu hỏi lúc này là làm sao đạt được mục tiêu rất cao đó?

Câu trả lời là chúng ta có dám thay đổi cách làm không. Thực chất, đây là một bài kiểm tra rất lớn về tư duy, về tầm nhìn quản trị phát triển quốc gia, chứ không chỉ là bài toán thuần túy “thúc đẩy tăng trưởng” GDP.

Thực tế cho thấy, chúng ta hoàn toàn có thể làm được.

Có thể thấy rõ điều đó khi nhìn vào những thay đổi trong tư duy kết nối. Lâu nay, chúng ta vẫn nói “hạ tầng đi trước một bước”, nhưng thực tế thường là đi sau. Vướng đâu gỡ đó, đứt đâu vá đó thì đi sau thôi. Vì sợ không có vốn, thậm chí không biết kiếm tiền ở đâu để làm.

Nhưng vài năm qua, cách tiếp cận hạ tầng thay đổi căn bản, thể hiện rõ tính đồng bộ và đẳng cấp. Các dự án hạ tầng được thiết kế, thực hiện trên toàn tuyến, khơi thông, nối mạch cho các vùng kinh tế, trung tâm tăng trưởng kinh tế. Cả nền kinh tế được nối với nhau, cả đường bộ, đường không, đường sắt, đường thủy, đường biển… thay vì cát cứ theo vùng, theo tỉnh. Năng lượng cũng đang thay đổi, theo hướng sạch, tái tạo và hướng ta biển. Hạ tầng công nghiệp cũng theo hướng là khu thương mại tự do, đô thị hiện đại… Chưa kể hạ tầng số đang được đẩy mạnh hiếm thấy theo logic ưu tiên.

Có thể nói, điểm khác biệt nổi bật nhất chính là ở điều kiện hạ tầng cho sự cất cánh, bay lên thật của nền kinh tế đã thay đổi căn bản

Và tiền đầu tư cho hạ tầng không còn quá khó?

Cách làm đúng sẽ tạo niềm tin và khí thế cho khu vực kinh tế tư nhân, từ đó, tiền đầu tư sẽ được khơi thông, đổ vào các dự án “tạo đột phá”. Có lẽ dự án khởi đầu của dòng vốn tư nhân đầu tư vào hạ tầng loại này là dự án sân bay Vân Đồn tại Quảng Ninh. Dự án đó đã phá vỡ “vòng kim cô” về tư tưởng không tin vào doanh nghiệp tư nhân, mở ra cách tiếp cận đẳng cấp trong đầu tư hạ tầng.

Cho đến nay, dự án này vẫn chưa phát huy hết năng lực, nhưng tiếp tục logic này, hướng đi này cần phải được thúc đẩy mạnh mẽ. Chúng ta phải tự tin với cách làm mới, tư duy mới, nếu đồng bộ hơn, kết nối được các mạch công nghiệp, đô thị, du lịch thì nền kinh tế sẽ trỗi dậy, không thể khác.

Phải đặt yêu cầu này trong bối cảnh hội nhập cũng đã rất khác so với giai đoạn trước, khi vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế đã thay đổi, mục tiêu là “chơi với các nhà đầu tư tầm cao”, thu hút các hệ sinh thái đẳng cấp cao, có mặt ở thị trường hàng đầu thế giới, đi cùng với thế giới… để thấy áp lực rất khác về cách làm.

TƯ DUY HOÀN TOÀN KHÁC VỀ TIẾP CẬN PHÁT TRIỂN

Chỉ mất 1 vài tuần, thậm chí là vài ngày sau khi “bộ tứ trụ cột” nghị quyết của Bộ Chính trị được ban hành, Quốc hội, Chính phủ đã có các văn bản hướng dẫn, chương trình hành động. Thậm chí, việc quán triệt, triển khai thực hiện được thực hiện gần như ngay lập tức, trên phạm vi cả nước. Chưa bao giờ, việc đưa Nghị quyết vào thực tiễn quyết liệt đến như vậy - PGS-TS. Trần Đình Thiên nhấn mạnh, coi đó là tuyên ngôn “làm thật” từ Nhà nước.

Ông cho rằng, chính cách tiếp cận rất mới, với tư duy hoàn toàn khác trước đã tạo niềm tin cho xã hội, cộng đồng doanh nghiệp. Vì một khi “thể chế là điểm nghẽn của điểm nghẽn”, thì để gỡ được, chuyển thành “đột phá của đột phá” đòi hỏi nỗ lực rất lớn, rất khác.

“Tư duy tiếp cận hoàn toàn khác trước” có thể hiểu như thế nào, thưa ông?

Có hai điểm khác theo tôi rất quan trọng, đặc biệt cần nhấn mạnh.

Một là, cách tiếp cận các vấn đề phát triển theo khối, theo hệ thống.

Hai là, tuyên ngôn thực hiện ngay, quyết liệt, nói là làm trong hệ thống Nhà nước.

Đầu tiên là bộ tứ nghị quyết trụ cột, gồm Nghị quyết 57-NQ/TW, Nghị quyết 68-NQ/TW, Nghị quyết 59-NQ/TW (về hội nhập quốc tế trong tình hình mới), Nghị quyết 66-NQ/TW (về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới); tiếp sau là Nghị quyết 70-NQ/TW (về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045), Nghị quyết 71-NQ/TW (về về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo), Nghị quyết 72-NQ/TW (về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân), Nghị quyết 79-NQ/TW (về phát triển kinh tế nhà nước), Nghị quyết 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam. Và tới đây còn có thể có một số nghị quyết nữa.

Ngay sau đó, các văn bản thể chế hóa được ban hành, đưa nghị quyết vào cuộc sống ngay lập tức với tư duy nhà nước kiến tạo - đồng hành.

Trước đây, chúng ta cũng đã có các nghị quyết về kinh tế tư nhân, về doanh nghiệp nhà nước, nghị quyết về giáo dục, hạ tầng…, nhưng hiệu quả chưa thực sự như kỳ vọng. Nguyên nhân có nhiều, nhưng có một lý do quan trọng là việc ban hành, thực thi các nghị quyết để giải quyết các vấn đề theo cách đơn lẻ, riêng biệt từng Nghị quyết, dễ tạo xung đột, thiếu đồng bộ giữa các nghị quyết, giữa các tuyến thực thi và cả những nhóm lợi ích khác biệt, giữa ngành này với ngành kia.

Trong khi đó, các vấn đề của nền kinh tế thị trường cần được giải quyết theo hệ thống, với cơ chế, chính sách tổng thể. Ví dụ như nguồn nhân lực của nền kinh tế đổi mới sáng tạo đòi hỏi hệ thống giáo dục phải chuyển sang giáo dục khai phóng, giải phóng trí tuệ, khuyến khích tài năng thay thế cho hệ thống giáo dục theo sách giáo khoa, giáo dục văn mẫu; gắn với phát triển doanh nghiệp, doanh nhân với các động lực cạnh tranh thị trường đích thực, phải gắn với khởi nghiệp sáng tạo, công nghệ cao; hội nhập gắn với xanh, sạch, chuẩn mực đẳng cấp cao trong phát triển…

Tất nhiên, việc thực thi các nghị quyết vẫn phải theo từng tuyến, có những ưu tiên phù hợp, có thể sẽ có những trục trặc, va đụng, cần thời gian để giải quyết, nhưng cách tiếp cận “khối – hệ thống đồng bộ, đồng thời” sẽ thúc đẩy một cách hiệu quả việc thực hiện các giải pháp, nhiệm vụ theo hệ thống, với cùng tư duy phát triển…

Có thể những điều này chưa trả lời ngay được bài toán tăng trưởng 2 con số, thậm chí làm khó hơn bài toán này trong ngắn hạn, nhưng chắc chắn sẽ tạo nền tảng phát triển cao bền vững như kỳ vọng.

Có thể nói rằng, mọi hành động sẽ phải bắt đầu ngay từ năm nay, năm 2026, thưa ông?

Năm 2026 là điểm khởi đầu cho con đường thịnh vượng của Việt Nam, nhưng sẽ là một năm vất vả. Rất nhiều việc sẽ cần làm ngay, nhưng cũng rất nhiều việc cần phải nhìn trong tâm thế của nền kinh tế sẽ phát triển đột biến, chứ không chỉ bứt phá, khi thể chế sẽ thành đột phá của đột phá.

Việt Nam đã rất khác - cả con người, tâm thế, khát vọng; cần những cách nghĩ khác, cách làm khác để có được những kết quả thực sự khác biệt. Vấn đề là sự quyết liệt, quyết tâm của từng người, của cả bộ máy Nhà nước.

Việc này khó, nhưng hành trình phát triển của Việt Nam cho thấy, cứ khi đất nước cần, cả dân tộc sẽ cùng đứng lên.

Bảo Duy
baodautu.vn

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục