Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022, được sửa đổi tại Luật số 139/2025 có hiệu lực từ ngày 1/1/2026, quy định Nhà nước đầu tư xây dựng cơ sở dữ liệu về hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm cung cấp thông tin về bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm; việc thu thập, lưu giữ phải tuân thủ pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân. Cơ sở dữ liệu này được kết nối với các cơ sở dữ liệu quốc gia khác.
Theo ông Trần Nguyên Đán - Viện trưởng Học viện Bảo hiểm và Quản trị rủi ro tài chính (IFRM), khung pháp lý cho vấn đề dữ liệu đã có từ hơn 3 năm nay, nhưng phần còn thiếu là hệ thống có thể vận hành trên thực tế cùng quy chuẩn kỹ thuật để các doanh nghiệp kết nối.
Các doanh nghiệp đã kiến nghị cơ quan quản lý sớm vận hành tập trung cơ sở dữ liệu về bảo hiểm, trong khi Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam (IAV) cũng khuyến nghị các doanh nghiệp thành viên chia sẻ thông tin về lịch sử tổn thất. Tuy nhiên, đến nay, hệ thống chưa được triển khai đầy đủ.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, nhiều thị trường bảo hiểm đã xây dựng cơ chế dữ liệu dùng chung. Chẳng hạn, tại Singapore, Hiệp hội Bảo hiểm chung Singapore (GIA) quản lý các cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý hợp đồng, yêu cầu bồi thường và phát hiện gian lận. Hay tại Vương quốc Anh, cơ sở dữ liệu Claims and Underwriting Exchange (CUE) lưu trữ thông tin về các vụ việc được khai báo với doanh nghiệp bảo hiểm, phục vụ thẩm định và phòng chống gian lận…
Theo ông Đán, dữ liệu dùng chung không nhất thiết phải tập trung thành một “kho dữ liệu duy nhất”. Điều quan trọng là có chuẩn dữ liệu thống nhất, cơ chế đóng góp, khai thác và quy định rõ về quyền truy cập, bảo mật.
Với cơ sở dữ liệu tổn thất sức khỏe dùng chung toàn ngành, ông Đán cho rằng, Việt Nam nên làm từ phần dễ nhất là dữ liệu lịch sử bồi thường, mà chưa cần đến hồ sơ bệnh án.
“Kinh nghiệm tại Mỹ cho thấy, chỉ cần trao đổi bằng mã hợp đồng cũng có thể phát tín hiệu cảnh báo, không nhất thiết phải chia sẻ hồ sơ y tế. Cách này vừa giúp giảm rủi ro lộ lọt dữ liệu cá nhân, vừa có thể nhận diện tình trạng một người mua nhiều hợp đồng ở nhiều nơi rồi yêu cầu bồi thường cùng lúc”, ông Đán nói.
Đại diện Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính) cho biết, dự án xây dựng cơ sở dữ liệu chung toàn ngành đang trong giai đoạn hoàn thiện, bởi đặc thù ngành bảo hiểm ra đời sau và chuẩn mực ngành cũng đi sau các lĩnh vực tài chính khác. Ngoài ra, dữ liệu bảo hiểm rất sâu và thực tế kinh doanh trên thị trường cho thấy, ngành cần thêm thời gian để có thể xây dựng được cơ sở hạ tầng quan trọng này.
Việc thiếu dữ liệu liên thông đang được các công ty bảo hiểm và khách hàng cho là một trong những nguyên nhân chính làm tăng chi phí cho cả 2 bên. Công ty bảo hiểm phải tự thu thập, chuẩn hóa và đối chiếu thông tin; khách hàng có thể phải cung cấp lại hồ sơ khi giao dịch hoặc yêu cầu giải quyết quyền lợi bảo hiểm. Quá trình đánh giá rủi ro, phát hiện hồ sơ bất thường và xây dựng sản phẩm vì thế cũng mất thêm thời gian, chi phí.
Ngược lại, khi dữ liệu được chuẩn hóa và kết nối, công ty bảo hiểm có thêm cơ sở để thẩm định, quản trị rủi ro và định phí; khách hàng có thể giảm bớt thủ tục. Với dữ liệu nhạy cảm như thông tin sức khỏe, yêu cầu về quyền truy cập, bảo mật và mục đích sử dụng càng trở nên quan trọng.
Lãnh đạo các doanh nghiệp bảo hiểm cùng nhìn nhận, hệ thống tích hợp dữ liệu là cần thiết để các doanh nghiệp cùng chia sẻ thông tin và phục vụ quản lý nhà nước tốt hơn. Theo ông Vũ Anh Tuấn - Tổng giám đốc Bảo hiểm Bảo Minh, hiện các bên đang triển khai hệ thống công nghệ tích hợp dữ liệu y tế của người dân để dùng chung. Ông cũng kỳ vọng đến năm 2030, khi hệ thống hoàn thiện, tình trạng gian lận bảo hiểm sẽ được hạn chế đáng kể.
Ông Trần Nguyên Đán cũng nhấn mạnh, dữ liệu chỉ thực sự tạo ra giá trị khi được chuyển thành thông tin phục vụ quyết định kinh doanh. Vì vậy, bài toán của ngành bảo hiểm không chỉ là xây dựng một “kho dữ liệu” dùng chung, mà còn là tạo được hạ tầng có khả năng kết nối, chia sẻ và khai thác an toàn.