Mở khóa kỷ nguyên tăng trưởng

(ĐTCK) Thị trường Việt Nam đã ghi những cột mốc ấn tượng sau gần ba thập kỷ hình thành và phát triển, nhưng đang đứng trước yêu cầu giải những bài toán quan trọng của đất nước, để đóng góp cho kỷ nguyên tăng trưởng mới.
Với chủ đề mang tính thời sự, Hội thảo “Tái cấu trúc các kênh dẫn vốn” thu hút sự quan tâm lớn của cơ quan quản lý, giới chuyên gia và nhà đầu tư Với chủ đề mang tính thời sự, Hội thảo “Tái cấu trúc các kênh dẫn vốn” thu hút sự quan tâm lớn của cơ quan quản lý, giới chuyên gia và nhà đầu tư

Lớn lên cùng thị trường vốn

Có lẽ chẳng mấy người dân Việt Nam lại không biết tới Vinamilk - thương hiệu sữa với tập sản phẩm phong phú, xuất hiện dày đặc trên các kệ siêu thị hoặc các cửa hàng tạp hóa khu dân cư. Trên sàn chứng khoán, cổ phiếu Vinamilk (mã VNM) nằm trong nhóm VN30, dù gần đây không biến động quá nổi bật nhưng vẫn được nhiều nhà đầu tư nắm giữ dài hạn.

Từ một doanh nghiệp sản xuất sữa, Vinamilk đã tận dụng hiệu quả nguồn lực từ thị trường vốn để liên tục đầu tư trang trại, mở rộng hệ thống nhà máy hiện đại, phát triển mạng lưới phân phối và từng bước xuất khẩu sang nhiều thị trường quốc tế. Doanh nghiệp tạo việc làm cho gần 100.000 lao động trực tiếp và gián tiếp, đồng thời hình thành chuỗi giá trị rộng lớn từ chăn nuôi, chế biến đến hệ thống logistics và bán lẻ. Sau 23 năm cổ phần hóa và hơn 20 năm đưa cổ phiếu lên sàn niêm yết, giá trị vốn hóa của VNM đã đạt 117.000 tỷ đồng (tính tại thời điểm cuối tháng 7/2026), tăng gần 78 lần so với quy mô của giai đoạn chưa cổ phần hóa (năm 2003), nơi khoản đầu tư ban đầu của Nhà nước chỉ ở mức 1.500 tỷ đồng.

Với Tập đoàn Hòa Phát (mã HPG), nguồn vốn huy động từ thị trường chứng khoán đã góp phần giúp doanh nghiệp triển khai những dự án thép quy mô hàng tỷ USD, từng bước hoàn thiện chuỗi sản xuất khép kín và trở thành nhà sản xuất thép lớn nhất Việt Nam. Cùng với sự tăng trưởng về quy mô của doanh nghiệp, hàng chục nghìn việc làm được tạo ra tại các khu liên hợp sản xuất thép ở Hải Dương, Quảng Ngãi và nhiều địa phương khác. Sau gần 19 năm kể từ thời điểm lên sàn, vốn hóa của HPG tại thời điểm tháng 7/2026 đạt 190.000 tỷ đồng, tăng hơn 12 lần.

Trong lĩnh vực công nghệ, FPT cũng tận dụng thị trường chứng khoán để mở rộng quy mô đầu tư, phát triển các trung tâm nghiên cứu, đào tạo nguồn nhân lực và thúc đẩy xuất khẩu phần mềm. Từ vài nghìn nhân sự ban đầu, FPT hiện trở thành doanh nghiệp có hơn 80.000 lao động, hiện diện tại hơn 40 quốc gia trên thế giới. Việc niêm yết trên thị trường chứng khoán cũng là “tấm vé thông hành” để Tập đoàn vươn ra hợp tác với đối tác toàn cầu (trong điều kiện chọn doanh nghiệp hợp tác có đặt ra tiêu chuẩn phải là doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán của một quốc gia).

Tại Công ty cổ phần Đầu tư và Thương mại TNG (mã TNG), dòng vốn huy động từ thị trường chứng khoán (qua kênh cổ phiếu và trái phiếu) đã góp phần quan trọng trong việc đưa doanh nghiệp từ chỗ bị kiểm toán nghi ngờ về khả năng hoạt động liên tục trở thành một trong những doanh nghiệp dệt may xuất khẩu hàng đầu Việt Nam với 19.000 lao động, 13 nhà máy may, 2 nhà máy phụ trợ và 2 chi nhánh công nghệ. Những nhà máy của TNG hiện được trang bị máy móc hiện đại, tự động hóa nhiều khâu, xây dựng theo tiêu chuẩn xanh - sạch.

Có thể thấy, những doanh nghiệp thành công nhất trên thị trường chứng khoán Việt Nam là những doanh nghiệp biết tận dụng thị trường để tạo bước ngoặt phát triển. Những doanh nghiệp này coi niêm yết không chỉ là cơ hội huy động vốn mới, mà còn là quá trình nâng cấp toàn diện về quản trị, minh bạch thông tin và chuẩn hóa hoạt động theo thông lệ quốc tế. Chính những thay đổi đó giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, tiếp cận các nhà đầu tư lớn trong và ngoài nước, đồng thời tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững.

Thị trường chứng khoán đem đến kênh huy động vốn dài hạn để các doanh nghiệp phát triển, mở rộng quy mô và tạo thêm việc làm cho xã hội. Mỗi doanh nghiệp thành công trên sàn chứng khoán không chỉ mang lại lợi ích cho cổ đông, mà còn góp phần nâng cao năng lực sản xuất của nền kinh tế và đóng góp nguồn lực lớn cho ngân sách.

Hai mươi sáu năm kể từ khi khai trương phiên giao dịch đầu tiên, thị trường chứng khoán Việt Nam đã đạt được những bước tiến lớn. Từ 2 doanh nghiệp niêm yết ban đầu, tính đến hết tháng 6/2026, trên Sở Giao dịch chứng khoán TP.HCM (HOSE), có 683 mã chứng khoán đang niêm yết, gồm 402 mã cổ phiếu, 4 mã chứng chỉ quỹ đóng, 20 mã chứng chỉ quỹ ETF và 257 mã chứng quyền có bảo đảm với tổng khối lượng chứng khoán niêm yết đạt hơn 220.471 tỷ chứng khoán và tổng giá trị chứng khoán niêm yết đạt 2,19 triệu tỷ đồng. Giá trị vốn hóa cổ phiếu trên HOSE đạt trên 8.765 triệu tỷ đồng. Trong khi đó, thị trường cổ phiếu niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) có 301 doanh nghiệp, với tổng giá trị niêm yết đạt hơn 191.000 tỷ đồng. Tổng vốn hóa thị trường cổ phiếu tính đến cuối tháng 6/2026 đạt trên 82% GDP 2025. Quy mô thị trường trái phiếu niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội đến cuối tháng 5/2026 đạt 2.819.000 tỷ đồng, tương đương 21,9% GDP ước tính năm 2025.

Đi theo xu hướng

Chuyển dịch dòng vốn dài hạn sang thị trường vốn (cổ phiếu và trái phiếu) là yêu cầu sống còn của chu kỳ tăng trưởng mới, thay vì phụ thuộc rất lớn vào kênh tín dụng ngân hàng như hiện nay. Nhiều doanh nghiệp đã sớm nhận ra xu hướng ấy và đặt lộ trình triển khai mạnh mẽ.

Trong tháng 7/2026, F88 thực hiện phát hành 22 triệu cổ phiếu ra công chúng. Với giá chào bán 71.000 đồng/cổ phiếu (thấp hơn khoảng 10% so với thị giá đang giao dịch trên thị trường UPCoM), nếu phân phối thành công toàn bộ số cổ phiếu này, doanh nghiệp dự kiến huy động được khoảng 1.564 tỷ đồng.

Đáng chú ý, theo chia sẻ của lãnh đạo F88 cũng như đơn vị tư vấn thương vụ, mục tiêu của đợt phát hành này vượt lên trên mục tiêu huy động thêm nguồn lực tài chính thuần túy. Theo đó, đợt phát hành nhằm mở rộng và tăng cường sự tham gia của các nhà đầu tư mới đồng hành cùng doanh nghiệp, khơi thông kênh huy động tiềm năng khổng lồ trên thị trường vốn.

Sau đợt chào bán cổ phiếu này, nguồn vốn chủ sở hữu của F88 sẽ tăng lên, giúp tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu (hiện tại đang ở mức thấp, cuối quý I/2026 là 1,69 lần) tiếp tục giảm xuống. Một cấu trúc tài chính an toàn, lành mạnh sẽ là điểm cộng rất lớn trong mắt các tổ chức tài chính khi F88 đi huy động vốn.

Bà Trần Mai Thảo, Giám đốc tài chính F88 cho biết, chi phí vốn là một phần chi phí rất lớn của Công ty, bao gồm chi phí từ khoản vay đối tác nước ngoài, chi phí liên quan coupon cho phát hành trái phiếu, các chi phí khác như phòng ngừa rủi ro (hedging) cho các khoản vay. Việc phát hành ra công chúng và tiến đến là niêm yết cổ phiếu trên HOSE nằm trong lộ trình phát triển được hoạch định từ trước của F88, góp phần đa dạng hoá nguồn vốn để không có rủi ro tập trung ở bất kỳ nguồn vốn nào. F88 cũng tập trung các sáng kiến liên quan đến ESG - những sáng kiến mà các quỹ nước ngoài rất quan tâm - vừa để phát triển bền vững, vừa giảm chi phí vốn.

Các cột mốc này, theo bà Thảo, sẽ giúp F88 tiếp tục hạ chi phí vốn thêm khoảng 2% trong giai đoạn 2026 - 2030, trực tiếp tối ưu hóa biên lợi nhuận cho doanh nghiệp.

Theo ước tính của chuyên gia Vietcap, với nguồn vốn dự kiến huy động hơn 1.500 tỷ đồng, F88 có thể tiết kiệm từ 15 - 20 tỷ đồng chi phí vốn trong năm nay và tiết kiệm khoảng gần 200 tỷ đồng trong năm 2027 (tương đương phần lãi suất mà Công ty phải trả nếu đi vay nước ngoài hay phát hành trái phiếu).

Trước đó, Điện Máy Xanh (mã DMX) cũng hoàn tất IPO. Thương vụ được đánh giá là thành công trong bối cảnh thị trường chứng khoán có diễn biến kém tích cực khi có sự góp mặt từ gần 30 nhà đầu tư tổ chức, đại diện cho gần 60 quỹ đầu tư trong và ngoài nước, bên cạnh gần 2.600 nhà đầu tư cá nhân. Nhóm định chế tài chính này đã hấp thụ tới 90% tổng khối lượng chào bán; trong đó, dòng vốn tổ chức nước ngoài giữ vai trò chủ đạo khi chiếm 73% và tổ chức trong nước chiếm 17%.

Với 90% khối lượng mua thuộc về các nhà đầu tư tổ chức và quỹ đầu tư dài hạn, cơ cấu cổ đông của DMX có thể xem là chất lượng cao.

Nhiều doanh nghiệp khác cũng có chuyển động tích cực trong IPO, niêm yết cổ phiếu thời gian qua như TCX, VPX, VCK, HPA, DatVietVAC, hay Bách Hoá Xanh, Wincommerce, Highland Coffee… nhằm tận dụng kênh huy động vốn phục vụ tăng trưởng trong kỷ nguyên mới. Đó cũng là ý nghĩa vốn dĩ của thị trường vốn.

Trong 2 năm gần đây, nhóm doanh nghiệp tư nhân như Vingroup, Techcombank, Gelex… đã huy động nguồn vốn lớn từ thị trường chứng khoán. Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước Vũ Thị Chân Phương nhấn mạnh, thị trường chứng khoán không chỉ cung cấp nguồn vốn trung và dài hạn, mà còn góp phần nâng cao quản trị doanh nghiệp, tăng tính minh bạch và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Nhưng không phải tất cả

Dẫu vậy, số lượng doanh nghiệp Việt Nam có thể huy động vốn và sử dụng hiệu quả kênh dẫn vốn qua thị trường chứng khoán không nhiều. Hiện 70% nhu cầu vốn của nền kinh tế vẫn phụ thuộc vào hệ thống ngân hàng. Số liệu thống kê về huy động vốn trong 6 tháng đầu năm 2026 càng cho thấy rõ sự lệch pha ấy (xem biểu đồ).

Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế hiện đã lên tới gần 20 triệu tỷ đồng, tương đương khoảng 145% GDP - thuộc nhóm cao trong khu vực. Hệ số cho vay trên huy động (LDR) bình quân toàn ngành ngân hàng nhiều năm duy trì ở mức xấp xỉ 120% (huy động 100 đồng cho vay 120 đồng). Gánh nặng cung ứng vốn chủ yếu dồn lên vai ngành ngân hàng đã dẫn tới nhiều áp lực cho hệ thống tín dụng. Đó là room tín dụng ngày càng căng, chênh lệch kỳ hạn giữa huy động và cho vay lớn, ngân hàng phải tài trợ cả những dự án kéo dài 15 - 20 năm, trong khi đây là chức năng dòng vốn dài hạn.

Nhìn sang nhiều nền kinh tế châu Á, ngân hàng chỉ là một trong ba trụ cột cung ứng vốn. Ở Hàn Quốc, Malaysia hay gần đây là Ấn Độ, khi ngân hàng giảm cho vay, doanh nghiệp vẫn có thể huy động hàng chục tỷ USD thông qua kênh cổ phiếu, trái phiếu, quỹ tín thác đầu tư bất động sản (REIT), quỹ đầu tư, quỹ hưu trí... Các tập đoàn lớn như Samsung, Hyundai, LG đều huy động vốn chủ yếu trên thị trường chứng khoán, ngân hàng chỉ hỗ trợ một phần.

Việt Nam đang bước vào kỷ nguyên tăng trưởng mới với mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045. Tầm nhìn này đòi hỏi GDP tăng trưởng trung bình hai con số và tỷ lệ đầu tư trên GDP duy trì khoảng 40%. Ước tính nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội cho giai đoạn 5 năm 2026 - 2030 lên tới 1.500 tỷ USD, gấp đôi so với giai đoạn 2021 - 2025, tương đương 2,5 lần GDP năm 2025 và gấp 4 lần quy mô vốn hóa toàn bộ thị trường chứng khoán hiện tại. Do đó, chuyển dịch dòng vốn dài hạn sang thị trường vốn (cổ phiếu và trái phiếu) là yêu cầu sống còn của chu kỳ tăng trưởng mới, thay vì phụ thuộc rất lớn vào kênh tín dụng ngân hàng như hiện nay.

Các diễn giả tham gia Hội thảo “Tái cấu trúc các kênh dẫn vốn” do Báo Tài chính - Đầu tư tổ chức giữa tuần qua đồng thuận rằng, tái cấu trúc các kênh dẫn vốn không đơn thuần là mở rộng quy mô thị trường chứng khoán, mà là phân bổ lại vai trò giữa các định chế tài chính.

Theo ông Bùi Hoàng Hải, Phó chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, không có mô hình nào tuyệt đối đúng giữa nền kinh tế dựa vào ngân hàng hay dựa vào thị trường vốn. Điều quan trọng là hai kênh này phải phát triển đồng bộ, bổ trợ lẫn nhau nhằm tối ưu hóa hiệu quả phân bổ nguồn lực. Theo đó, ngân hàng sẽ tập trung vào tín dụng lưu động, vốn sản xuất - kinh doanh và tài trợ chuỗi cung ứng. Trong khi đó, thị trường chứng khoán và thị trường trái phiếu cần trở thành kênh huy động vốn trung, dài hạn cho doanh nghiệp; các quỹ đầu tư, công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí sẽ đảm nhận vai trò nhà đầu tư tổ chức, tạo nguồn cầu bền vững cho các đợt phát hành.

Bà Đặng Nguyệt Minh, Giám đốc Nghiên cứu Dragon Capital cho biết, để bù đắp khoảng trống vốn thiếu hụt ước tính khoảng 120 - 150 tỷ USD mỗi năm, thị trường vốn được kỳ vọng là kênh chủ đạo. Thị trường chứng khoán Việt Nam hiện đối mặt với một nghịch lý lớn: vĩ mô hội tụ mọi điểm cộng lý tưởng khi tăng trưởng GDP dự báo đạt 8,2% (cao nhất khu vực), tăng trưởng lợi nhuận doanh nghiệp năm 2026 dự báo đạt 23%, định giá thị trường hấp dẫn và sở hữu vị thế số 1 trong xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng “Trung Quốc+1”, nhưng khối ngoại liên tục rút ròng mạnh mẽ. Trong hai năm 2024 - 2025, khối ngoại đã bán ròng hơn 6 tỷ USD và tiếp tục rút 78.000 tỷ đồng trong nửa đầu năm nay. Sở hữu nước ngoài tính theo giá trị vốn hóa đã giảm một nửa, từ mức đỉnh 24% (năm 2016) xuống còn 12% (năm 2026).

Điểm nghẽn trong thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài, theo chuyên gia Dragon Capital, không nằm ở rào cản kỹ thuật, mà nằm ở sự lệch pha giữa cấu trúc hàng hóa trên sàn chứng khoán và khẩu vị đầu tư toàn cầu. Nhóm tài chính - ngân hàng và bất động sản đang chiếm tới 68% vốn hóa toàn thị trường vào năm 2026. Trái lại, tỷ trọng các ngành công nghệ cao, sản xuất quy mô lớn và dịch vụ tiêu dùng hiện đại lại suy giảm đáng kể. Trong khi các ngân hàng đầu tư hàng đầu thế giới như J.P. Morgan, Citibank hay IFC chỉ tập trung tìm kiếm các cơ hội đầu tư về năng lượng xanh, đổi mới sáng tạo và công nghệ cao, sàn chứng khoán Việt Nam lại thiếu các hàng hóa chất lượng này.

Các con số được chia sẻ từ ông Bùi Thành Trung, Phó tổng giám đốc Công ty Chứng khoán Thiên Việt (TVS) cũng đáng chú ý, dòng vốn đầu tư tư nhân và vốn mạo hiểm giải ngân vào Việt Nam đạt khoảng 4,5 tỷ USD năm 2025 nhưng đang gặp tắc nghẽn lớn ở khâu thoái vốn. Trong vòng 5 năm qua, thị trường chưa ghi nhận một thương vụ thoái vốn thành công nào của các quỹ đầu tư tư nhân, quỹ đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam thực hiện qua kênh IPO, buộc hoạt động rút vốn chủ yếu phải đi qua các thương vụ mua bán và sáp nhập (M&A). Chu kỳ nắm giữ một khoản đầu tư tại Việt Nam hiện kéo dài từ 7 - 10 năm. Điển hình như tại TVS, tỷ lệ hoàn vốn trên tài sản ròng (DPI) gần như bằng 0% trong nhiều năm liền và phải mất hơn 10 năm mới có thể thực hiện thoái vốn thành công. Điều này gây ra những áp lực rất lớn khi thuyết phục hội đồng đầu tư của các quỹ đối tác quốc tế phê duyệt giải ngân.

Thị trường còn đối mặt với sự lệch pha kỳ hạn của dòng vốn cá nhân. Tính đến thời điểm cuối tháng 6/2026, số lượng tài khoản chứng khoán của nhà đầu tư đã đạt trên 13,4 triệu tài khoản, tuy nhiên, cơ cấu nhà đầu tư vẫn phụ thuộc lớn vào nhà đầu tư cá nhân. Theo ông Nguyễn Sơn, Chủ tịch Hội đồng thành viên Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam (VSDC), hơn 98% tài khoản trên thị trường hiện nay thuộc về nhà đầu tư cá nhân. Điều này giúp thanh khoản sôi động trong nhiều giai đoạn nhưng cũng khiến thị trường biến động mạnh, dễ chịu tác động bởi tâm lý ngắn hạn.

Bà Trịnh Quỳnh Giao, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Quản lý quỹ PVI (PVI AM) cho rằng, tiền nhàn rỗi trong dân rất lớn, nhưng người dân thiếu niềm tin và thói quen ủy thác dài hạn. Doanh nghiệp cần vốn trung, dài hạn tối thiểu 5 năm để đầu tư hạ tầng, nhưng nhà đầu tư cá nhân có tài sản lớn chỉ chấp nhận kỳ hạn quỹ tối đa 2 năm vì lo ngại thanh khoản. Ngoài ra, chính sách thuế cũng chưa đủ hấp dẫn. Thay vì miễn thuế hoàn toàn cho các quỹ tương hỗ như Trung Quốc thực hiện từ 10 năm trước, Việt Nam vẫn áp dụng chính sách thuế thiếu tính khuyến khích, khiến đầu tư ủy thác khó cạnh tranh với hành vi tự giao dịch cá nhân ngắn hạn.

Sứ mệnh mới của thị trường vốn

Ông Bùi Hoàng Hải cho biết, Bộ Tài chính dự kiến huy động khoảng 5,4 triệu tỷ đồng qua thị trường chứng khoán trong giai đoạn 2026 - 2030, gấp hơn 2 lần lượng vốn huy động trong giai đoạn 2021-2025.

Để khơi thông các điểm nghẽn trên thị trường vốn, các chuyên gia cho rằng, Việt Nam cần thực thi đồng bộ giải pháp tái cấu trúc ở cả hai đầu cung và cầu. Về phía cung, có thể áp dụng Chứng chỉ lưu ký không có quyền biểu quyết (NVDR) tự phát hành bởi Sở giao dịch chứng khoán theo kinh nghiệm thành công của Thái Lan (chiếm 21% thanh khoản thị trường chứng khoán Thái Lan) để gỡ nghẽn giới hạn room ngoại mà không ảnh hưởng quyền biểu quyết của doanh nghiệp nội. Đồng thời, cần xây dựng cơ chế đặc thù cho phép các doanh nghiệp công nghệ cao, chip bán dẫn được niêm yết trên sàn ngay cả khi chưa đáp ứng tiêu chuẩn có lãi để thay đổi cơ cấu hàng hóa thị trường.

Về phía cầu, cần áp dụng cơ chế hoãn thuế đối với mức đóng góp của quỹ hưu trí tự nguyện lên tới 15 - 20% thu nhập để kích thích tích lũy dòng vốn dài hạn mấy chục năm trong dân; hay thí điểm cho phép các ngân hàng thương mại có chất lượng quản trị tốt được phân phối chính thức sản phẩm chứng chỉ quỹ nhằm khơi thông kênh bán lẻ đến nhóm khách hàng cá nhân.

Một giải pháp khác được chuyên gia đưa ra tại Hội thảo của Báo Tài chính - Đầu tư, đó là cần xây dựng khung pháp lý để ngân hàng thương mại chứng khoán hóa các khoản vay hạ tầng dài hạn đã đi vào vận hành ổn định và có dòng tiền ổn định để bán lại cho các công ty bảo hiểm. Giải pháp này giúp ngân hàng giải phóng một lượng room tín dụng khổng lồ cho dự án mới, đồng thời giúp công ty bảo hiểm khớp kỳ hạn tài sản nợ dài hạn…

Ông Michael Kokalari, chuyên gia kinh tế, Quỹ đầu tư VinaCapital cho biết, trong hơn 20 năm hoạt động tại Việt Nam, VinaCapital đã xây dựng mạng lưới sâu rộng với các trung tâm tài chính lớn trên thế giới như London, New York, Singapore và nhiều thị trường khác; đồng thời cũng hiểu rõ nhu cầu, kỳ vọng cũng như mức độ quan tâm ngày càng lớn đối với thị trường Việt Nam. Theo ông, Việt Nam cần ưu tiên hoàn thành mục tiêu được MSCI nâng hạng lên thị trường mới nổi. Đây sẽ bước ngoặt quan trọng giúp thu hút dòng vốn đầu tư thụ động và chủ động quy mô lớn từ các quỹ quốc tế. Đồng thời, Việt Nam cần sớm đạt được xếp hạng tín nhiệm ở mức đầu tư (Investment Grade) từ các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế như S&P, Moody's hoặc Fitch. Việt Nam cũng cần đẩy nhanh việc đưa trung tâm tài chính quốc tế đi vào hoạt động, qua đó, tạo thêm một kênh quan trọng để thu hút dòng vốn quốc tế.

Song song đó, Việt Nam cần thúc đẩy mạnh mẽ hơn quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước, các đợt phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) cũng như các hình thức huy động vốn khác. Điều này sẽ giúp Việt Nam mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng hàng hóa trên thị trường vốn, từ đó thu hút thêm nhiều nhà đầu tư quốc tế.

Ông Michael Kokalari tiết lộ, có rất nhiều quỹ đầu tư quốc tế với quy mô lên tới hàng trăm tỷ USD đang theo dõi rất sát thị trường Việt Nam. Khi những điều kiện nêu trên được hoàn thiện và Việt Nam chính thức được MSCI nâng hạng, VinaCapital tin rằng, sẽ có một lượng vốn rất lớn được giải ngân vào thị trường Việt Nam.

“Không thể xây dựng nền kinh tế 40 năm bằng dòng vốn 12 tháng”, câu nói của Giám đốc Nghiên cứu Dragon Capital Đặng Nguyệt Minh được lan truyền nhanh chóng sau Hội thảo “Tái cấu trúc các kênh dẫn vốn” cho thấy sứ mệnh mới của thị trường chứng khoán sau chặng đường gần 30 năm phát triển. Từ những bước chân đầu tiên chập chững, thị trường chứng khoán Việt Nam đang đứng trước vận hội mới để khẳng định vị thế là một cấu phần quan trọng của hệ thống tài chính quốc gia, góp phần huy động và phân bổ nguồn lực lớn cho nền kinh tế.

Bà Vũ Thị Chân Phương, Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước
Bà Vũ Thị Chân Phương, Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước

Đất nước đang bước vào một giai đoạn phát triển mới với mục tiêu phát triển nhanh và bền vững, với mục tiêu duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức hai con số trong những năm tới, việc huy động hiệu quả các nguồn lực cho đầu tư phát triển có ý nghĩa quyết định. Trong đó, thị trường chứng khoán giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc huy động và phân bổ nguồn vốn trung và dài hạn cho doanh nghiệp và nền kinh tế.

Dòng vốn từ thị trường chứng khoán không chỉ giúp doanh nghiệp bổ sung nguồn lực tài chính mà còn góp phần nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp, tăng cường tính công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình và uy tín trên thị trường. Những yếu tố đó sẽ tạo nền tảng để doanh nghiệp phát triển bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh và từng bước hội nhập sâu rộng với thị trường vốn khu vực và quốc tế.

Ông Đặng Thành Tâm , Chủ tịch HĐQT Tổng công ty Phát triển đô thị Kinh Bắc

Ông Đặng Thành Tâm , Chủ tịch HĐQT Tổng công ty Phát triển đô thị Kinh Bắc

Ai cũng hiểu tín dụng ngân hàng nên tập trung vào nhu cầu vay ngắn hạn, bổ sung vốn lưu động và ưu tiên cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Còn các doanh nghiệp lớn thì nên tập trung phát hành trái phiếu, cổ phiếu và làm việc với các quỹ đầu tư lớn.

Nhưng để những điều đó đi vào cuộc sống, việc đầu tiên là chúng ta phải hoàn thiện thể chế.

Chưa bao giờ chính sách và thể chế của Việt Nam tốt như ngày hôm nay. Tôi hy vọng trong thời gian tới, khi Việt Nam hoàn thành ký kết hiệp định thương mại với Mỹ và có những thông điệp cụ thể gửi ra thế giới, cùng với việc chuyển dịch cơ cấu dòng vốn, thị trường chứng khoán sẽ có bức tranh hoàn toàn mới.

Bà Trịnh Quỳnh Giao, Tổng giám đốc PVIAM
Bà Trịnh Quỳnh Giao, Tổng giám đốc PVIAM

Để giảm chi phí huy động vốn quốc tế, Việt Nam cần nâng định mức tín nhiệm quốc gia. Các con số vĩ mô của Việt Nam đã thực sự tốt hơn nhiều nước cùng hạng trong khu vực. Trước đây, các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế đề cập nhiều đến câu chuyện cải cách thể chế, nhưng đến nay họ đã thấy sự quyết liệt của Việt Nam trong cải cách.

Điểm duy nhất họ quan tâm là tính có thể dự báo được của chính sách. Chính phủ nào cũng phải thay đổi chính sách theo thực tế, nhưng cách chúng ta truyền thông chính sách ra thị trường để quản lý kỳ vọng của nhà đầu tư là rất quan trọng, điều này giúp giảm bớt biến động quá mức.

Ông Nguyễn Duy Linh, Tổng giám đốc Công ty Chứng khoán Sài Gòn – Hà Nội (SHS)
Ông Nguyễn Duy Linh, Tổng giám đốc Công ty Chứng khoán Sài Gòn – Hà Nội (SHS)

Các nhà đầu tư nước ngoài đánh giá rất cao triển vọng kinh tế vĩ mô của Việt Nam trong 3-10 năm tới. Tuy nhiên, khi đi sâu vào các cơ hội đầu tư cụ thể, mối quan tâm của họ lại tập trung vào một số lĩnh vực rất chọn lọc.

Nếu chúng tôi mang danh mục gồm các doanh nghiệp bất động sản hay tài chính thì họ hầu như không quan tâm. Họ muốn tìm kiếm các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực năng lượng xanh, đổi mới sáng tạo và những ngành gắn với xu hướng tăng trưởng mới.

Từ thực tế đó, Việt Nam cần sớm xác định các ngành kinh tế trọng điểm để ưu tiên IPO và niêm yết, qua đó mở rộng nguồn hàng chất lượng cao cho thị trường chứng khoán.

Ông Trịnh Hoài Giang, Tổng giám đốc Công ty Chứng khoán TP.HCM
Ông Trịnh Hoài Giang, Tổng giám đốc Công ty Chứng khoán TP.HCM

Về mặt chiến lược sản phẩm, nên tập trung làm thật tốt một vài sản phẩm trọng tâm có tính thanh khoản cao, thay vì dàn trải ra quá nhiều sản phẩm mà thị trường không đủ độ sâu và thanh khoản để hấp thụ. Tàu lớn muốn vào thì luồng lạch phải sâu, và chúng ta phải tăng cường độ sâu bằng cách cải thiện đồng bộ tất cả các mặt.

Hiện trên thị trường có khoảng 20 quỹ ETF dựa trên nhiều chỉ số khác nhau, nhưng số lượng ETF đủ lớn và có giao dịch sôi động rất ít. Khi làm nhà tạo lập thị trường cho ETF, chúng tôi phải chọn những ETF có độ sâu tốt để tập trung nguồn lực.

Chúng ta cũng có thể bổ sung thêm các sản phẩm phái sinh như hợp đồng tương lai vàng (gold futures), hợp đồng tương lai USD (USD futures) hay phái sinh hàng hóa, nhưng phải chọn những sản phẩm “ngon” nhất và được nhà đầu tư quan tâm nhất để tránh bị loãng và rối.

Ông Phạm Phú Khôi, Tổng thư ký Hiệp hội Kinh doanh Trái phiếu Việt Nam (VMBA)
Ông Phạm Phú Khôi, Tổng thư ký Hiệp hội Kinh doanh Trái phiếu Việt Nam (VMBA)

Khả năng để tiếp tục phát triển nguồn vốn thông qua tín dụng ngân hàng khá hạn chế. Nhiều phân tích gần đây thấy tổng huy động tiền gửi so với tổng cho vay hiện nay đang có một khoảng cách rất lớn, đâu đó khoảng 2 triệu tỷ đồng theo những con số hết quý I. Các ngân hàng sẽ ngày càng phải cạnh tranh lẫn nhau để thu hút tiền gửi từ doanh nghiệp cũng như từ người dân, qua đó tạo áp lực lên mặt bằng lãi suất.

Vì thế, việc phát triển thị trường trái phiếu là tối cần thiết. Không chỉ riêng trái phiếu trong nước mà cần phải phát triển cả trái phiếu nước ngoài. Chúng ta vẫn nói tại sao ở các nước phát triển họ đi in tiền. Câu "in tiền" nghe rất dân dã, thực ra không phải họ tự in ra mà họ phải đi vay từ những nước khác. Ví dụ, nước Mỹ hiện nay là con nợ lớn nhất thế giới. Không phải đơn giản họ cứ in tiền đô ra, mà họ phải phát hành trái phiếu Chính phủ Mỹ để các nước khác mua.

Hằng - Vân - Anh

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục