Mở đường cho dòng vốn dài hạn

(ĐTCK) Để đáp ứng nhu cầu vốn cho một chu kỳ tăng trưởng cao, bài toán đặt ra không chỉ là huy động thêm tiền, mà còn phải mở rộng nguồn hàng cho thị trường vốn, hình thành những dòng vốn dài hạn và khơi thông các nguồn lực đang nằm ngoài vòng quay của nền kinh tế.
Toàn cảnh phiên thảo luận

Tại phiên thảo luận về “Nguồn lực tài chính trong chu kỳ tăng trưởng mới” trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế mới Việt Nam lần thứ 4 năm 2026 với chủ đề “Chính sách đột phá và sức bật của địa phương, doanh nghiệp” diễn ra chiều qua, các chuyên gia cho rằng dư địa để mở rộng thị trường vốn vẫn còn rất lớn. Từ đưa thêm các doanh nghiệp quy mô lớn lên sàn, phát triển quỹ hưu trí tự nguyện, mở rộng vai trò của các định chế tài chính phi ngân hàng đến khai thác hiệu quả trung tâm tài chính quốc tế và những nguồn lực đang bị mắc kẹt trong nền kinh tế.

Thị trường vốn cần thêm “hàng”

Kinh tế tăng trưởng cao nhưng thị trường chứng khoán không nhất thiết phải tăng tương ứng nếu thị trường chưa phản ánh đầy đủ những khu vực đang tạo ra động lực tăng trưởng của nền kinh tế. Vấn đề vì thế không nằm ở việc thị trường đã mất vai trò “hàn thử biểu”, mà ở chỗ phạm vi phản ánh của thị trường vẫn còn hẹp.

Theo ông Trịnh Thanh Cần, Tổng giám đốc kiêm Thành viên HĐQT CTCK KAFI, thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn đang thực hiện vai trò “hàn thử biểu” của nền kinh tế, nhưng mức độ tham gia của các khu vực kinh tế chưa đủ rộng. Một lượng lớn doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân quy mô lớn vẫn chưa hiện diện trên thị trường chứng khoán. Trong khi đó, diễn biến của một số nhóm ngành như bất động sản, ngân hàng, dầu khí mới phản ánh động lực của từng khu vực riêng lẻ. Vì vậy, để thị trường phản ánh đầy đủ hơn sức khỏe và động lực tăng trưởng của nền kinh tế, cần đưa đại diện của những khối kinh tế lớn lên sàn.

“Bộ Tài chính và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã có những kế hoạch thúc đẩy, song có thể nghiên cứu thêm các ưu đãi về thuế đối với doanh nghiệp lớn khi thực hiện niêm yết”, ông Cần kiến nghị.

Ông Trịnh Thanh Cần, Tổng giám đốc kiêm Thành viên HĐQT KAFI

Ở góc nhìn của nhà đầu tư tổ chức, bà Đặng Nguyệt Minh, Giám đốc Khối Nghiên cứu, Dragon Capital cho rằng, thị trường chứng khoán Việt Nam đang có nhiều lợi thế, trong đó có việc đã được nâng hạng lên thị trường mới nổi và tiếp tục hướng tới những mục tiêu cao hơn như đáp ứng các tiêu chuẩn của MSCI. Nền tảng kinh tế vĩ mô cũng đang tạo điều kiện thuận lợi để thu hút thêm vốn. Tuy nhiên, một hạn chế lớn là thị trường có mức biến động cao: có năm tăng khoảng 30% nhưng năm sau có thể giảm mạnh. Muốn thu hút những nguồn vốn lớn, có quy mô và tính bền vững cao hơn, thị trường cần ổn định hơn, đồng thời chất lượng doanh nghiệp niêm yết phải được nâng lên.

“Chúng ta cần những doanh nghiệp quy mô lớn, có tính ổn định cao và có khả năng duy trì cổ tức đều đặn. Khi thị trường có tính ổn định và khả năng dự đoán cao hơn, đó sẽ là điều kiện quan trọng để thu hút các nhà đầu tư tầm cỡ trên thế giới. Vì vậy, cần đẩy mạnh niêm yết các doanh nghiệp lớn, những doanh nghiệp có nền tảng ổn định, đồng thời đưa lên sàn các doanh nghiệp thuộc những ngành thể hiện sức mạnh của Việt Nam, chẳng hạn du lịch”, bà Minh nói.

Tuy nhiên, theo bà Minh, cần có những thay đổi để tạo động lực cho doanh nghiệp tham gia và ở lại thị trường. Bởi việc niêm yết hiện mang lại cho doanh nghiệp nhiều nghĩa vụ nhưng chưa có tương xứng về quyền lợi. Vì vậy, bên cạnh việc nghiên cứu ưu đãi thuế đối với doanh nghiệp niêm yết, cần có cơ chế khuyến khích và phân biệt rõ hơn giữa các doanh nghiệp.

Bà Minh nói: “Những doanh nghiệp tạo ra giá trị gia tăng cho cổ đông, duy trì lợi nhuận và cổ tức đều đặn cần được hưởng chính sách ưu đãi tốt hơn, thay vì tình trạng các doanh nghiệp gần như được đối xử theo một mặt bằng chung”.

Dòng vốn dài hạn đang ở đâu?

Nếu nguồn cung trên thị trường vốn cần được mở rộng, câu hỏi tiếp theo là dòng tiền nào sẽ hấp thụ lượng hàng hóa đó. Đây là khoảng trống đáng chú ý khi nền kinh tế bước vào giai đoạn tăng trưởng cao, bởi nhu cầu vốn dài hạn ngày càng lớn trong khi hệ thống ngân hàng vẫn đang phải gánh phần lớn nhu cầu vốn của doanh nghiệp và nền kinh tế.

Một trong những nguồn vốn có thể khai thác ngay trong nước là khu vực bảo hiểm nhân thọ. Từ thực tế cung cấp dịch vụ quản lý quỹ và quản lý tài sản cho các doanh nghiệp bảo hiểm, bà Tạ Thị Tuệ Anh, Giám đốc Khối Khách hàng Định chế tài chính, HSBC cho rằng, Việt Nam đang có những nguồn vốn dài hạn nhưng thiếu các kênh đầu tư tương xứng.

Bà Tạ Thị Tuệ Anh, Giám đốc Khối Khách hàng Định chế tài chính HSBC

“Để đáp ứng các mục tiêu tăng trưởng cao trong thời gian tới, cần kết hợp huy động nguồn vốn trong nước với nguồn vốn quốc tế, đồng thời tăng sự tham gia của các định chế tài chính phi ngân hàng để giảm tải cho hệ thống ngân hàng. Khu vực bảo hiểm nhân thọ hiện đang nắm giữ một lượng tài sản lớn nhưng còn thiếu các kênh đầu tư dài hạn. Phần lớn nguồn vốn hiện được phân bổ vào trái phiếu kho bạc và tiền gửi ngân hàng ngắn hạn. Nếu có cơ chế mở rộng các kênh đầu tư, chúng ta đã có thể huy động một nguồn vốn đáng kể trong nước trước khi phải tìm kiếm thêm nguồn lực từ quốc tế”, bà Tuệ Anh nói.

Theo bà Tuệ Anh, Đề án Cải cách tổng thể thị trường tài chính (Quyết định số 1413/QĐ-TTg) là một cơ sở quan trọng để hình thành hệ sinh thái tài chính với sự tham gia đầy đủ hơn của các định chế phi ngân hàng. Một đề án được xây dựng tương đối chi tiết về lộ trình và vai trò của các thành phần, các định chế tài chính phi ngân hàng trong toàn bộ hệ thống nhưng vấn đề quan trọng tiếp theo là đưa những định hướng này vào thực tế.

Cánh cửa huy động vốn quốc tế cũng cần được mở rộng hơn. Hiện đã có doanh nghiệp Việt Nam, ngân hàng và công ty chứng khoán huy động vốn ở nước ngoài, trong đó các định chế tài chính quốc tế tham gia hỗ trợ. Tuy nhiên, nếu trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam được vận hành hiệu quả, doanh nghiệp có thể có thêm một lựa chọn ngay trong nước thay vì phải sang Singapore hay Hong Kong để huy động vốn.

“Tôi kỳ vọng trung tâm tài chính quốc tế tại Đà Nẵng và TP.HCM sẽ tạo điều kiện để doanh nghiệp và các định chế tài chính Việt Nam huy động vốn ngay tại Việt Nam, thay vì phải ra các trung tâm tài chính quốc tế khác. Kinh nghiệm của Ấn Độ cho thấy mô hình này có thể giúp doanh nghiệp và các định chế tài chính trong nước huy động vốn ngay tại trung tâm tài chính quốc tế của mình. Điều quan trọng là phải có những chính sách cụ thể để thành viên tham gia có thể huy động vốn và đưa nguồn vốn đó trở lại nền kinh tế”, bà Tuệ Anh cho biết.

Theo bà Tuệ Anh, Việt Nam có những lợi thế đáng kể để phát triển các kênh huy động vốn quốc tế, gồm tốc độ tăng trưởng GDP cao, ổn định vĩ mô và thành công trong thu hút FDI nhiều năm qua. Dư địa huy động cũng không chỉ nằm ở trái phiếu, mà còn có thể mở rộng sang tài trợ dự án, tài trợ xuất khẩu và tín dụng tư nhân.

Tuy nhiên, khả năng tiếp cận nguồn vốn quốc tế còn phụ thuộc vào chi phí vốn. Theo TS. Cấn Văn Lực, chuyên gia kinh tế trưởng BIDV, nâng hệ số tín nhiệm quốc gia là một trong những việc cần quyết tâm thực hiện để giảm chi phí huy động vốn cho cả nền kinh tế. Hiện nay, việc vay ngoại tệ từ nước ngoài còn khó khăn, với lãi suất khoảng 6-7%, do đó việc cải thiện tín nhiệm quốc gia sẽ có tác động trực tiếp đến khả năng tiếp cận và chi phí của nguồn vốn quốc tế.

Ở trong nước, một bài toán khác là hình thành được nguồn vốn dài hạn có tính ổn định. Ông Trịnh Thanh Cần cho rằng quỹ hưu trí tự nguyện có thể trở thành một trong những kênh quan trọng. Sau hơn 10 năm vận hành, số dư quỹ hiện chỉ khoảng 2.200 tỷ đồng, với khoảng 77 công ty quản lý quỹ tham gia. Những hạn chế trong đầu tư vào thị trường chứng khoán cũng khiến sức hấp dẫn của kênh này chưa cao.

Theo ông Cần, có thể tận dụng sự phát triển nhanh của các công ty chứng khoán về vốn, công nghệ và mạng lưới khách hàng cá nhân để thúc đẩy quỹ hưu trí tự nguyện, tương tự mô hình tài khoản IRA tại Mỹ. Nếu thiết kế sản phẩm đa dạng hơn, giảm bớt những hạn chế đầu tư không cần thiết và sử dụng mạng lưới công ty chứng khoán làm kênh phân phối, dòng vốn dài hạn có thể tăng đáng kể.

“Giả sử một triệu người tham gia, với mức đóng bình quân khoảng 2 triệu đồng mỗi tháng, chúng ta có thể hình thành khoảng 2.000 tỷ đồng vốn dài hạn mỗi tháng vào thị trường chứng khoán. Trong khi đó, thị trường hiện có khoảng 14 triệu tài khoản. Đây là một dư địa rất lớn nếu có thể thiết kế được sản phẩm phù hợp và một kênh phân phối đủ mạnh”, ông Cần tính toán.

Bà Đặng Nguyệt Minh, Giám đốc Khối Nghiên cứu, Dragon Capital

Trên thị trường trái phiếu quốc tế, theo bà Tuệ Anh, kế hoạch phát hành trái phiếu Chính phủ sẽ tạo một mức tham chiếu quan trọng để doanh nghiệp Việt Nam tham chiếu khi tiếp cận thị trường. Song, số doanh nghiệp Việt Nam phát hành trái phiếu quốc tế hiện chưa nhiều, nên doanh nghiệp cần chuẩn bị kỹ và chủ động tìm kiếm đơn vị tư vấn khi muốn huy động vốn trên thị trường này.

Khơi thông nguồn lực, nâng hiệu quả phân bổ vốn

Nếu thị trường vốn cần thêm “hàng” và nền kinh tế cần những dòng vốn dài hạn hơn, thì một yêu cầu khác là phải mở rộng các nguồn lực có thể đưa vào nền kinh tế, đồng thời nâng hiệu quả phân bổ những nguồn lực đó.

“Chúng ta phải đa dạng hóa thị trường vốn theo hướng đa tầng, trong đó cần phát triển mạnh hơn thị trường trái phiếu Chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp và các quỹ đầu tư. Đồng thời, cần cho phép các quỹ có nguồn lực lớn như bảo hiểm xã hội đa dạng hóa danh mục đầu tư hơn, bởi hiện nay nguồn vốn của các quỹ này rất lớn nhưng còn tương đối hạn chế về kênh đầu tư…”, TS. Cấn Văn Lực đề xuất.

Theo ông Lực, bên cạnh đa dạng hóa các kênh vốn, cần kiến tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi và ổn định để nhà đầu tư yên tâm bỏ vốn. Quan trọng hơn, nền kinh tế còn nhiều nguồn lực đã hình thành nhưng chưa được khai thác hiệu quả. TS. Lực ước tính có 67 nguồn tài lực có thể nghiên cứu để khơi thông, trong đó đáng chú ý là đất đai, tài sản công, các dự án tồn đọng, thuế và phí, các quỹ tài chính ngoài ngân sách, tiền tiết kiệm trong dân và những kênh tài chính mới.

TS. Cấn Văn Lực, chuyên gia kinh tế trưởng BIDV

Cụ thể, ông Lực cho biết, các địa phương hiện có khoảng 20-25% thu ngân sách liên quan đến đất đai, trong khi doanh nghiệp có thể phải dành khoảng 30-35% chi phí của một dự án cho các khoản liên quan đến đất đai. Đáng chú ý hơn, còn khoảng 1.290 dự án, 70.000 ha đất và 1.000.000 tỷ đồng vốn đang đọng tại các dự án này và cần sớm được khơi thông.

Cùng với đó, việc đẩy nhanh hoàn thuế VAT có thể tạo thêm dòng tiền trực tiếp cho doanh nghiệp; các quỹ tài chính ngoài ngân sách cũng cần được nâng hiệu quả sử dụng. Trong khi đó, tốc độ quay vòng tiền trong nền kinh tế hiện chỉ khoảng 0,67 lần, cho thấy dòng tiền vẫn còn ách tắc, trong khi ICOR ở mức cao đặt ra yêu cầu phải cải thiện hiệu quả sử dụng vốn.

“Một kênh nữa là tiền tiết kiệm trong dân. Hiện nay tiền tiết kiệm trong dân của chúng ta vẫn cao hơn so với vốn đầu tư toàn xã hội khoảng 2% GDP. Nếu có cách để huy động được nguồn lực này thì cũng rất tốt”, ông Lực nói.

Bên cạnh những nguồn lực truyền thống, trung tâm tài chính quốc tế, thị trường carbon và tài sản mã hóa, thông qua việc token hóa và chia nhỏ tài sản để nhiều nhà đầu tư cùng tham gia, cũng được xem là những kênh có thể mở rộng thêm khả năng huy động vốn. Nhưng huy động được nguồn lực mới chỉ là một nửa bài toán. Hiệu quả phân bổ vốn mới quyết định chất lượng tăng trưởng. Theo TS. Cấn Văn Lực, đầu tư công cần được tính toán, cơ cấu lại để nâng hiệu quả sử dụng vốn, qua đó góp phần cải thiện ICOR. Đồng thời, phải kiểm soát tốt rủi ro liên thông giữa ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, quỹ đầu tư và các kênh tài chính khác.

“Kiểm soát rủi ro gắn với việc huy động và phân bổ vốn vào những chỗ hiệu quả. Đồng thời, phải kiểm soát tốt hơn rủi ro liên thông của hệ thống tài chính, đặc biệt giữa ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, quỹ đầu tư và các kênh liên thông khác. Đồng thời, giữ ổn định thị trường tài chính và bất động sản, hai thị trường có mức độ liên thông lớn”, ông Lực lưu ý.

Nhuệ Mẫn

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục