Quyền chọn chỉ số mở thêm công cụ phòng ngừa rủi ro cho nhà đầu tư, đồng thời đa dạng hóa sản phẩm trên thị trường phái sinh
Ba điểm mới
Dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 58/2021/TT-BTC đang được Bộ Tài chính lấy ý kiến, lần đầu đưa hợp đồng quyền chọn chỉ số chứng khoán vào khuôn khổ pháp lý, đồng thời tái cấu trúc mô hình bù trừ, thanh toán theo hướng chuyên biệt hóa.
Thứ nhất, bổ sung sản phẩm mới: hợp đồng quyền chọn chỉ số chứng khoán.
Hợp đồng quyền chọn được thiết kế với các khái niệm về chỉ số cơ sở, quyền chọn mua, quyền chọn bán, giá thực hiện và phí quyền chọn. Đáng chú ý, Dự thảo đưa vào khái niệm hệ số chuyển đổi (Delta), được dùng để quy đổi vị thế quyền chọn thành vị thế tương đương hợp đồng tương lai khi tính nghĩa vụ ký quỹ.
Tài sản cơ sở là chỉ số do Sở Giao dịch chứng khoán Việt Nam (VNX) xây dựng và quản lý; hợp đồng được thanh toán bằng tiền tại ngày đáo hạn; nhiều mức giá thực hiện được niêm yết tại các tháng đáo hạn, với phí quyền chọn xác định theo giá khớp lệnh trên Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX).
Thứ hai, chi tiết hóa cơ chế bù trừ, thanh toán và phân định nghĩa vụ giữa hai bên.
Phí quyền chọn được thanh toán theo nguyên tắc bù trừ giữa giá trị phải trả và được nhận của các hợp đồng cùng ngày giao dịch, qua đó giảm khối lượng chuyển tiền và chi phí vận hành.
Việc thực hiện hợp đồng dựa trên khoản chênh lệch bằng tiền giữa giá thực hiện và giá thanh toán cuối cùng của chỉ số cơ sở. Việc thực hiện chỉ áp dụng với hợp đồng có lãi và được tổ chức bù trừ tự động thực hiện tại ngày đáo hạn, trừ khi nhà đầu tư có yêu cầu khác.
Nhà đầu tư nắm giữ vị thế mua phải nộp đầy đủ phí quyền chọn trước khi giao dịch; rủi ro tối đa giới hạn ở khoản phí này nên không phát sinh nghĩa vụ ký quỹ bổ sung. Ngược lại, nhà đầu tư nắm giữ vị thế bán phải nộp đầy đủ ký quỹ ban đầu cho toàn bộ vị thế dự kiến mở, ngoại trừ giao dịch đối ứng.
Thứ ba, tái cấu trúc mô hình bù trừ và cắt giảm thủ tục hành chính.
Một thay đổi đáng chú ý là chuyển vai trò đối tác bù trừ trung tâm (CCP) từ Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam (VSDC) sang Công ty TNHH Một thành viên Bù trừ chứng khoán Việt Nam (VSC). Các điều khoản liên quan đến quản lý tài khoản tiền gửi ký quỹ, Quỹ bù trừ và nghĩa vụ báo cáo khi thành viên mất khả năng thanh toán cũng được điều chỉnh theo chủ thể mới.
Dự thảo cũng bãi bỏ khái niệm “hợp đồng bù trừ, thanh toán” và không còn yêu cầu thành viên bù trừ phải ký hợp đồng này với tổ chức bù trừ. Trong giai đoạn chuyển tiếp, VSDC tiếp tục thực hiện các nghiệp vụ này cho đến khi VSC chính thức triển khai.
Tác động đến thị trường
Việc bổ sung quyền chọn chỉ số không chỉ mở rộng danh mục sản phẩm mà còn tạo thêm công cụ phòng ngừa rủi ro và hỗ trợ thu hút dòng vốn tổ chức.
Thứ nhất, đa dạng hóa sản phẩm, gia tăng chất lượng nguồn cung.
Cấu trúc sản phẩm hiện nay kém đa dạng. Theo số liệu của HNX, trong tháng 8/2026, khối lượng giao dịch bình quân hợp đồng tương lai chỉ số VN30 đạt 228.905 hợp đồng/phiên, tăng 12,81% so với tháng 7; trong khi hợp đồng tương lai chỉ số VN100 chỉ đạt bình quân 66 hợp đồng/phiên và hợp đồng tương lai trái phiếu chính phủ kỳ hạn 5 năm, 10 năm không phát sinh giao dịch trong cả tháng. Thanh khoản tập trung gần như toàn bộ vào hợp đồng tương lai VN30.
Quyền chọn giúp thị trường chuyển từ cấu trúc tuyến tính sang hệ sinh thái đa công cụ với đặc tính lợi suất phi tuyến, phù hợp mục tiêu tăng cung hàng hóa chất lượng cao và tăng trưởng bình quân 20 - 30%/năm.
Thứ hai, bổ sung công cụ phòng ngừa rủi ro và hỗ trợ ổn định thị trường cơ sở.
Khác với hợp đồng tương lai, quyền chọn giúp nhà đầu tư giới hạn mức lỗ ở khoản phí đã trả, đồng thời mở thêm công cụ quản trị rủi ro, đặc biệt là rủi ro đuôi (tail risk) cho nhà đầu tư tổ chức. Nhóm có nhu cầu phòng vệ đáng kể gồm quỹ ETF, quỹ mở, doanh nghiệp bảo hiểm và công ty chứng khoán phát hành chứng quyền có bảo đảm.
Quyền chọn cũng có thể giảm áp lực bán cổ phiếu khi nhà đầu tư tổ chức có thêm công cụ bảo vệ danh mục trước cú sốc biến động. Tuy vậy, tác động này chỉ phát huy khi sản phẩm đạt thanh khoản nhất định; thực tế của hợp đồng tương lai trái phiếu chính phủ và chỉ số VN100 cho thấy niêm yết mới chỉ là điều kiện cần.
Thứ ba, hỗ trợ duy trì kết quả nâng hạng và thu hút dòng vốn tổ chức.
Trong bối cảnh Việt Nam đã được FTSE Russell đưa vào nhóm thị trường mới nổi thứ cấp, hoàn thiện bộ công cụ phái sinh và mô hình đối tác bù trừ trung tâm chuyên biệt sẽ hỗ trợ tiến trình duy trì, nâng cao thứ hạng và triển khai các sản phẩm mới.
Ông Trịnh Hoài Giang, Tổng giám đốc Công ty Chứng khoán TP.HCM cho rằng, cần “tăng cường độ sâu của thị trường bằng cách cải thiện đồng bộ tất cả các yếu tố” và việc bổ sung sản phẩm quyền chọn có thể đưa thị trường phái sinh Việt Nam “lên một tầm cao mới”.
Sáu định hướng triển khai
Tăng cường độ sâu của thị trường bằng cách cải thiện đồng bộ tất cả các yếu tố.
Để sản phẩm mới vận hành hiệu quả, cần đồng thời hoàn thiện thiết kế sản phẩm, hạ tầng, cơ chế tạo lập thị trường và năng lực nhà đầu tư.
Thứ nhất, chuẩn hóa thiết kế sản phẩm theo lộ trình thận trọng.
Dự thảo giao VNX ban hành mẫu hợp đồng sau khi được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước chấp thuận. Giai đoạn đầu có thể chọn VN30 làm chỉ số cơ sở, điều chỉnh hệ số nhân, bước giá và hạn chế số mã niêm yết để tránh phân tán thanh khoản. Sau khi sản phẩm đầu tiên đạt thanh khoản ổn định, có thể mở rộng sang VN100, VNX50 hoặc các chỉ số ngành. Quyền chọn kiểu châu Âu (chỉ thực hiện quyền tại thời điểm đáo hạn) có thể phù hợp trong giai đoạn đầu.
Thứ hai, hoàn thiện bộ chỉ số cơ sở và nâng cao minh bạch thông tin.
Cần tiếp tục rà soát phương pháp tính VN30, VN100 theo hướng tiệm cận chuẩn quốc tế, chú trọng tỷ lệ cổ phiếu tự do chuyển nhượng, thanh khoản và quy tắc điều chỉnh định kỳ, nhất là cơ chế xác định giá thanh toán cuối cùng nhằm hạn chế khả năng tác động giá trong phiên đáo hạn.
Thứ ba, nâng cấp hạ tầng và quản trị rủi ro tại tổ chức bù trừ.
Hệ thống bù trừ cần tính ký quỹ theo rủi ro danh mục và cho phép bù trừ chéo vị thế giữa hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn cùng tài sản cơ sở. Năng lực giám sát theo thời gian thực và cảnh báo sớm đối với các vị thế tập trung bất thường cũng cần được trang bị đồng bộ.
Thứ tư, xây dựng cơ chế nhà tạo lập thị trường chuyên nghiệp.
Với nhiều mức giá thực hiện và tháng đáo hạn, quyền chọn chỉ số dễ phân mảnh thanh khoản nếu thiếu lực lượng yết giá hai chiều. Cần sớm ban hành khung nghĩa vụ yết giá, gồm giới hạn chênh lệch giá mua/giá bán, thời gian duy trì lệnh và khối lượng tối thiểu, kèm chính sách ưu đãi phù hợp về phí giao dịch.
Thứ năm, phân loại nhà đầu tư và tăng cường đào tạo.
Quyền chọn có cấu trúc lợi suất phức tạp, đặc biệt ở vị thế bán, nơi mức lỗ tiềm tàng có thể vượt xa khoản phí thu được. Cần đánh giá mức độ phù hợp của sản phẩm với nhà đầu tư cá nhân, áp dụng hạn mức vị thế bán quyền chọn và nâng cao yêu cầu chuyên môn đối với đội ngũ môi giới, tư vấn.
Thứ sáu, xác lập lộ trình triển khai theo giai đoạn.
Trên cơ sở tiến độ ban hành Thông tư dự kiến trong năm 2026, lộ trình có thể phân kỳ: hoàn thiện khung pháp lý và kiểm thử hạ tầng kỹ thuật; thí điểm hợp đồng quyền chọn chỉ số VN30 chuẩn hóa; sau đó từng bước mở rộng danh mục sản phẩm khi thị trường đã tích lũy đủ kinh nghiệm vận hành.
Dự thảo vừa bổ sung sản phẩm mới, vừa hoàn thiện cơ chế bù trừ, thanh toán và mô hình đối tác bù trừ trung tâm, qua đó đáp ứng tốt hơn nhu cầu phòng ngừa rủi ro của nhà đầu tư tổ chức. Dù vậy, khung pháp lý mới chỉ tạo điều kiện cần. Hiệu quả thực tế còn phụ thuộc vào mẫu hợp đồng, năng lực quản trị rủi ro tại tổ chức bù trừ, sự tham gia của lực lượng tạo lập thị trường và mức độ sẵn sàng của nhà đầu tư.
(*) Viện Chiến lược và Chính sách Kinh tế - Tài chính
(**) Công ty cổ phần Biotech Group Việt Nam