Mệnh lệnh tái cấu trúc

(ĐTCK) Trong câu chuyện về thị trường vốn Việt Nam, CEO một doanh nghiệp chia sẻ, nếu có chính sách thuế phù hợp, cô sẵn sàng trích 20% thu nhập hàng tháng đầu tư vào quỹ hưu trí.

Mong muốn của người lao động này không phải là cá biệt, với thu nhập hàng trăm triệu đồng/tháng, những nhân sự cao cấp như vậy vẫn nghĩ về tương lai khi họ dừng làm việc và sẵn sàng đóng góp vào các quỹ đầu tư dài hạn, dòng vốn mà Việt Nam đang khát khao huy động cho kỷ nguyên phát triển mới của đất nước, với hàng trăm dự án hạ tầng đầy tham vọng.

Trên thực tế, cánh cửa với dòng vốn dài hạn đang khá hẹp khi hiện nay khoảng 65-70% vốn của nền kinh tế vẫn đến từ hệ thống ngân hàng, điều này đồng nghĩa mỗi khi tăng trưởng tín dụng chậm lại, cả nền kinh tế lập tức chịu tác động.

Trong khi đó, tại nhiều nền kinh tế châu Á có thị trường vốn đã phát triển, ngân hàng chỉ còn là một trong ba trụ cột cung ứng vốn. Ở Hàn Quốc, Malaysia hay gần đây là Ấn Độ, khi ngân hàng giảm cho vay, doanh nghiệp vẫn có thể huy động hàng chục tỷ USD thông qua cổ phiếu, trái phiếu, REIT, quỹ đầu tư, quỹ hưu trí...

Khi bàn về thị trường vốn, các diễn giả tham gia Hội thảo “Tái cấu trúc các kênh dẫn vốn” do Báo Tài chính - Đầu tư tổ chức ngày 15/7 tới, đều cho rằng, ngân hàng cho dù vẫn là kênh dẫn vốn chủ lực nhưng đến lúc không thể dồn cho kênh này phải "gánh" cả nền kinh tế.

Vì sao Việt Nam cần tái cấu trúc các kênh dẫn vốn? Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng cao, bền vững trong nhiều năm. Muốn đạt mức tăng trưởng này, vốn đầu tư toàn xã hội phải lên tới 35-40% GDP. Việc gần như toàn bộ nhu cầu vốn đặt lên vai ngân hàng đã dẫn tới nhiều áp lực. Đó là room tín dụng ngày càng căng, chênh lệch kỳ hạn giữa huy động và cho vay lớn, ngân hàng phải tài trợ cả những dự án kéo dài 15-20 năm.

Bản chất ngân hàng phù hợp nhất với vốn lưu động. Trong khi đó, những dự án sân bay, cảng biển, điện gió, AI, bán dẫn, cao tốc... lại cần nguồn vốn 10-20 năm. Đó là "sân chơi" của thị trường vốn!

Nhiều hạn chế đã được chỉ ra trên thị trường vốn Việt Nam tạo ra những "ổ khóa" cần quyết liệt tháo bỏ. Dễ thấy là tình trạng nhà đầu tư tổ chức quá nhỏ, quá ít, quỹ hưu trí gần như chưa phát triển. Hiện nay, thanh khoản chủ yếu do nhà đầu tư cá nhân, công ty chứng khoán vẫn sống nhờ margin, do đó thị trường luôn biến động mạnh. Doanh nghiệp vẫn coi ngân hàng là địa chỉ đầu tiên khi cần vốn. Thị trường vốn tăng trưởng thiếu bền vững nên chưa hút được vốn dài hạn quốc tế, hầu như chưa thu hút được quỹ hưu trí nước ngoài.

Nhìn ra khu vực, 10 năm trước, Ấn Độ cũng phụ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng. Sau đó, họ phát triển mạnh các nhà đầu tư tổ chức, chú trọng doanh nghiệp tăng trưởng bền vững, khiến thị trường chứng khoán trở thành nơi cất trữ tài sản dài hạn, nhà đầu tư cá nhân bùng nổ đưa thị trường vốn Ấn Độ đạt trên 200 triệu tài khoản đầu tư. Hàng chục triệu người Ấn Độ mỗi tháng tự động đầu tư vào quỹ, dòng tiền dài hạn vì thế tăng rất mạnh. Hiện dòng vốn này hàng tháng tương đương khoảng 3-4 tỷ USD, tạo nguồn vốn ổn định cho thị trường.

Sau khủng hoảng châu Á 1997, Hàn Quốc nhận ra ngân hàng không thể là kênh dẫn vốn duy nhất. Bởi vậy, chính phủ nước này thúc đẩy thị trường trái phiếu doanh nghiệp, thị trường chứng khoán, quỹ đầu tư, nên Samsung, Hyundai, LG... đều huy động vốn chủ yếu trên thị trường vốn, ngân hàng chỉ hỗ trợ một phần.

Malaysia với quy mô dân số hơn 34 triệu người nhưng cũng xây dựng được hệ thống quỹ hưu trí rất mạnh. Quỹ EPF hiện quản lý hàng trăm tỷ USD, là nguồn vốn dài hạn khổng lồ nên mỗi khi doanh nghiệp phát hành trái phiếu hay cổ phiếu, luôn có nhà đầu tư tổ chức mua.

Việt Nam chắc chắn sẽ phải quyết liệt tái cấu trúc các kênh dẫn vốn. Thành quả của công cuộc này không chỉ hướng tới việc tăng thêm bao nhiêu nghìn tỷ đồng vốn hóa thị trường hay bao nhiêu doanh nghiệp niêm yết mới, mà sẽ góp phần thay đổi cấu trúc phân bổ vốn của nền kinh tế, để mỗi loại vốn được dẫn qua đúng "đường ống" bền vững hơn.

Người quan sát

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục