Lệch pha tăng trưởng tín dụng

(ĐTCK) Mới đầu tháng 3, nhiều ngân hàng đã báo cạn room tín dụng quý I, thậm chí từ chối cả các khoản vay cầm cố sổ tiết kiệm - vốn được xem là an toàn tuyệt đối. Đằng sau hiện tượng này lại là một thực tế rất khác: tín dụng toàn hệ thống đang tăng chậm và phân hóa rõ rệt.
Tăng trưởng tín dụng cao vẫn tập trung vào các ngân hàng có lợi thế về quy mô, tệp khách hàng

Hết room, hiện tượng cục bộ

Đầu tháng 3/2026, bà Hồng Liên (trú tại phường Yên Hòa, TP. Hà Nội) đến ngân hàng để tất toán sổ tiết kiệm đến hạn và gửi lại. Bà cũng đặt vấn đề với nhân viên ngân hàng về việc vay cầm cố sổ tiết kiệm nếu thời gian tới cần chi tiêu mà chưa khoản tiền gửi chưa tới kỳ hạn được rút. Câu trả lời bà nhận được khá bất ngờ: Hiện đơn vị “không còn room tín dụng”, nên chưa thể cam kết cho vay, cũng không thể thông tin cụ thể về lãi suất áp dụng. Một nhu cầu vay vốn gần như không có rủi ro, với tài sản đảm bảo là chính khoản tiền gửi của chính khách hàng tại ngân hàng nhưng cũng không chắc chắn được phía ngân hàng phê duyệt.

Lý giải rõ hơn về tình trạng này, nhân viên ngân hàng trên cho biết, từ cuối năm 2025, nhiều khoản vay đã phải tạm dừng giải ngân do chạm hạn mức tín dụng. Việc xử lý các món vay bị tạm dừng từ cuối năm chuyển sang đầu năm sau đã khiến room tín dụng quý I của ngân hàng gần như sử dụng hết ngay từ tháng 2.

Trong khi đó, tại Ngân hàng H, hoạt động cho vay vẫn diễn ra bình thường. Khách hàng vẫn có thể vay cầm cố sổ tiết kiệm với lãi suất phổ biến bằng lãi suất trên sổ cộng thêm khoảng 2%/năm.

Hai câu chuyện trên cho thấy hiện tượng “hết room tín dụng” chỉ xảy ra ở một số ngân hàng. Thông thường, các ngân hàng quy mô lớn hoặc những đơn vị có tốc độ tăng trưởng tín dụng nhanh ngay từ đầu năm sẽ là nhóm sớm chạm trần hạn mức tín dụng. Ngược lại, vẫn có những ngân hàng còn dư địa cho vay, đặc biệt là các tổ chức thận trọng hơn trong giải ngân. Sự khác biệt này khiến thị trường dễ hình thành cảm giác “toàn hệ thống hết room”, trong khi bản chất là sự phân hóa.

Ở góc độ điều hành, cơ chế cấp hạn mức tín dụng theo từng đợt cũng góp phần lý giải hiện tượng trên. Room tín dụng đầu năm thường được giao ở mức tương đối dè dặt, sau đó mới được xem xét điều chỉnh tùy theo diễn biến kinh tế và sức khỏe từng tổ chức tín dụng. Vì vậy, việc một số ngân hàng sớm “cạn room” phần nào mang tính kỹ thuật, phản ánh việc đã sử dụng hết hạn mức tạm thời, chứ không đồng nghĩa hệ thống đã chạm trần tăng trưởng tín dụng.

“Dù vậy, khi những khoản vay cầm cố sổ tiết kiệm cũng bị ảnh hưởng, có thể thấy áp lực room tín dụng không còn là câu chuyện nội bộ, mà bắt đầu tác động trực tiếp đến khách hàng và dòng chảy vốn trong nền kinh tế”, lãnh đạo cao cấp một ngân hàng thương mại cổ phần nhận định.

Tín dụng đang chậm lại

Tính đến ngày 11/3/2026, dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế đạt khoảng 18,84 triệu tỷ đồng, tăng 1,29% so với đầu năm, nhích nhẹ so với cùng kỳ năm 2025.

Đáng nói là hiện tượng hết room tín dụng (quý I) ở một số ngân hàng diễn ra trong bối cảnh tín dụng toàn hệ thống không hề tăng nóng, thậm chí có dấu hiệu chững lại.

Theo số liệu cập nhật đến ngày 11/3/2026, dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế đạt khoảng 18,84 triệu tỷ đồng, tăng 1,29% so với đầu năm, nhích nhẹ so với cùng kỳ năm 2025. Nếu so với cùng thời điểm của tháng trước, tín dụng còn giảm nhẹ 0,1%. Trong khi đó, huy động vốn gần như đi ngang và giảm nhẹ 0,05% so với đầu năm.

Cấu trúc tín dụng cũng không có nhiều biến động khi tín dụng bằng VND vẫn chiếm tỷ trọng áp đảo, với hơn 96% tổng dư nợ, còn tín dụng ngoại tệ chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ. Tín dụng ngắn hạn và trung dài hạn duy trì tương đối cân bằng, phản ánh nhu cầu vốn chưa có sự bứt phá rõ rệt ở bất kỳ khu vực nào.

Nguyên nhân khiến tín dụng chậm lại, theo bà Trần Thị Khánh Hiền, Giám đốc Khối Nghiên cứu Công ty Chứng khoán MB (MBS), đến từ nhiều yếu tố. Thứ nhất, mặt bằng lãi suất dù hạ nhiệt so với giai đoạn trước nhưng vẫn ở mức cao đối với nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là trong bối cảnh biên lợi nhuận bị thu hẹp. Thứ hai, thị trường bất động sản - một trong những kênh hấp thụ vốn lớn nhất - phục hồi chậm, kéo theo nhu cầu tín dụng suy yếu. Bên cạnh đó, môi trường kinh tế toàn cầu nhiều bất ổn cũng khiến doanh nghiệp thận trọng hơn trong kế hoạch mở rộng sản xuất - kinh doanh, từ đó hạn chế nhu cầu vay mới. Vì vậy, nghịch lý một số ngân hàng hết room tín dụng nhưng tín dụng toàn hệ thống tăng chậm cho thấy vấn đề không nằm ở quy mô tổng thể của dòng vốn, mà ở cách thức phân bổ dòng vốn tín dụng.

Trao đổi với Báo Đầu tư Chứng khoán, TS. Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia kinh tế nhận định, dòng tín dụng không phân bổ đều, mà có xu hướng tập trung vào những ngân hàng có lợi thế về quy mô, khách hàng và khả năng giải ngân. Chính các ngân hàng này lại là nhóm sớm chạm trần room tín dụng, trong khi những ngân hàng khác vẫn còn dư địa.

Bài toán điều hành và rủi ro phía trước

Hiện tượng room tín dụng cạn sớm ở một số nhà băng cũng đặt ra yêu cầu điều hành linh hoạt hơn trong phân bổ hạn mức tín dụng. Nếu không có sự điều chỉnh kịp thời, dòng vốn có thể bị ách tắc cục bộ tại một số ngân hàng, từ đó ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp và hiệu quả truyền dẫn chính sách.

Dư địa nới room tín dụng không phải không còn, nhưng bài toán nằm ở thời điểm và cách thức triển khai. Việc nới lỏng quá sớm có thể khiến tín dụng tăng nhanh, trong khi chất lượng tài sản chưa thực sự vững chắc, làm gia tăng rủi ro nợ xấu. Ngược lại, nếu điều hành quá thận trọng, dòng vốn có thể bị kìm hãm, ảnh hưởng đến đà phục hồi của nền kinh tế. Do đó, áp lực lớn nhất hiện nay là cân bằng giữa mục tiêu tăng trưởng và an toàn hệ thống.

TS. Nguyễn Trí Hiếu nhận định: “Room tín dụng cạn sớm trong quý I/2026 không phản ánh một chu kỳ tăng trưởng nóng của tín dụng, mà ngược lại, cho thấy sự lệch pha trong dòng chảy vốn. Để giải bài toán này, không chỉ đòi hỏi điều chỉnh ngắn hạn trong điều hành tín dụng, mà còn cần những cải cách dài hạn nhằm cân bằng lại hệ thống tài chính - nơi dòng vốn cần được phân bổ thông suốt, thay vì dồn nén và lệch hướng như hiện nay”.

Đồng quan điểm, TS. Cấn Văn Lực, Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính - tiền tệ quốc gia cho rằng, áp lực lên hệ thống ngân hàng sẽ còn kéo dài nếu các kênh dẫn vốn khác không sớm được khơi thông. Trong một báo cáo cập nhật tháng 2/2026 của nhóm nghiên cứu BIDV do TS. Cấn Văn Lực dẫn dắt, chuyên gia này nhận định thị trường trái phiếu doanh nghiệp dù đã có dấu hiệu phục hồi nhưng vẫn chưa lấy lại được vai trò là kênh huy động vốn trung và dài hạn chủ lực cho doanh nghiệp.

Theo ông Lực, khi tín dụng ngân hàng tiếp tục phải “gánh” nhu cầu vốn của nền kinh tế trong khi nguồn lực có hạn, áp lực phân bổ room sẽ ngày càng lớn, kéo theo nguy cơ méo mó dòng vốn và làm tăng chi phí vốn trong trung hạn.

Ở góc nhìn dài hạn, ông Lực cho rằng, vấn đề không nằm ở việc nới room nhiều hay ít, mà ở việc giảm dần sự phụ thuộc của nền kinh tế vào tín dụng ngân hàng. Khi các kênh dẫn vốn như trái phiếu doanh nghiệp và thị trường chứng khoán vận hành hiệu quả và minh bạch hơn, dòng vốn sẽ được phân bổ đồng đều hơn, qua đó giảm áp lực lên hệ thống ngân hàng và hạn chế tình trạng “cạn room” mang tính cục bộ.

Nhuệ Mẫn

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục