Làn sóng ngân hàng chia cổ tức bằng cổ phiếu

(ĐTCK) Mùa đại hội cổ đông (ĐHCĐ) ngân hàng đang đến gần, trong đó câu chuyện chia cổ tức bằng cổ phiếu để tăng vốn tiếp tục trở thành tâm điểm khi các nhà băng đẩy mạnh củng cố bộ đệm vốn và đáp ứng các chuẩn mực an toàn mới.
Dòng tiền tập trung vào những ngân hàng có câu chuyện riêng như M&A hoặc tái cấu trúc vốn

Làn sóng chia cổ tức bằng cổ phiếu để tăng vốn

Theo định hướng của Ngân hàng Nhà nước, hệ thống tổ chức tín dụng cần tiếp tục củng cố năng lực tài chính, nâng cao chất lượng vốn tự có, đảm bảo các tỷ lệ an toàn và từng bước tiệm cận các chuẩn mực quốc tế. Vì vậy, cổ tức ngân hàng năm nay tiếp tục được chi trả bằng cổ phiếu nhằm tăng vốn.

LPBank dự kiến trình ĐHCĐ năm 2026 phương án chia cổ tức năm 2025 với tỷ lệ 30% bằng cổ phiếu. ACB cũng dự kiến trình phương án tăng vốn thông qua chia cổ tức bằng cổ phiếu, cùng kế hoạch lợi nhuận năm 2026 và ngân sách hoạt động. Trong khi đó, NCB dự kiến phát hành thêm 1 tỷ cổ phiếu để nâng vốn điều lệ lên 29.279 tỷ đồng, dự kiến thực hiện trong quý II-III/2026.

Ông Phạm Văn Đẩu, Giám đốc tài chính HDBank cho biết, Ngân hàng tiếp tục duy trì chính sách cổ tức ở mức cao, tương xứng với mức lợi nhuận kỷ lục 21.300 tỷ đồng năm 2025. Phương án chi tiết về việc chia cổ tức bằng tiền mặt hay cổ phiếu sẽ được Hội đồng quản trị trình tại ĐHCĐ cuối tháng 4/2026. Đồng thời, HDBank dự kiến IPO Công ty Chứng khoán HD và HD Saison trong năm 2026.

Nam A Bank vừa công bố tài liệu họp ĐHCĐ thường niên năm 2026 dự kiến tổ chức ngày 20/3. Theo kế hoạch, Ngân hàng dự kiến tăng vốn điều lệ thêm hơn 5.431 tỷ đồng thông qua phát hành cổ phiếu từ nguồn vốn chủ sở hữu, phát hành ESOP và chào bán cổ phiếu riêng lẻ. Nếu hoàn thành, vốn điều lệ sẽ tăng từ 17.157 tỷ đồng lên 22.588 tỷ đồng.

Đáng chú ý, trong nhóm Big4, tại ĐHCĐ năm nay, VietinBank, Vietcombank và BIDV đều dự kiến bàn đến kế hoạch tăng vốn do một số kế hoạch trước đây chưa thể triển khai.

Cụ thể, Vietcombank đặt mục tiêu chào bán tối đa 6,5% số cổ phiếu đang lưu hành, tương đương khoảng 543,1 triệu cổ phiếu theo nghị quyết ĐHCĐ năm 2025. Tuy nhiên, đến tháng 1/2026, Ngân hàng mới phát đi thư mời báo giá dịch vụ thẩm định giá cho đợt phát hành riêng lẻ sắp tới.

Trong khi đó, BIDV đặt mục tiêu tăng vốn lên gần 92.000 tỷ đồng trong năm 2025 thông qua ba cấu phần, nhưng đến nay đều chưa triển khai. Đầu năm nay, BIDV đã được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận tăng vốn điều lệ tối đa gần 2.641 tỷ đồng. Hội đồng quản trị BIDV đã thông qua phương án chào bán 263,3 triệu cổ phiếu phổ thông riêng lẻ với giá 38.900 đồng/cổ phiếu, dự kiến thực hiện ngay trong quý I/2026. Riêng hai cấu phần khác gồm phát hành hơn 498,5 triệu cổ phiếu từ quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ và phát hành gần 1,4 tỷ cổ phiếu trả cổ tức từ lợi nhuận chưa phân phối năm 2023 (tương đương 19,9% lượng cổ phiếu lưu hành) vẫn đang chờ phê duyệt.

Hiện trong Top 10 ngân hàng có vốn điều lệ lớn nhất hệ thống, Vietcombank vẫn giữ vị thế quán quân nhờ đợt chia cổ tức bằng cổ phiếu tỷ lệ 49,5% đầu năm 2025. Trong khi đó, BIDV và VietinBank lần lượt xếp vị trí thứ sáu và thứ tư; vốn của BIDV hiện thấp hơn Techcombank, MB và VPBank, còn VietinBank thấp hơn MB và VPBank.

Thực tế, vốn điều lệ đóng vai trò như một “bộ đệm”, tạo nguồn lực cho các ngân hàng. Việc trả cổ tức bằng cổ phiếu giúp các nhà băng tích lũy vốn tự có, cải thiện hệ số an toàn vốn (CAR) và mở rộng tín dụng. Thông tư 14/2025/TT-NHNN quy định tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng thương mại có hiệu lực từ ngày 15/9/2025 đã đưa ra các yêu cầu khắt khe hơn theo hướng tiệm cận Basel III. Theo đó, từ năm 2030, các ngân hàng phải duy trì CAR tối thiểu 10,5%, cao hơn mức 8% hiện tại.

Áp lực nguồn cung cổ phiếu ngân hàng

Với nguồn cung cổ phiếu lớn dự kiến phát hành để tăng vốn trong năm nay, thị trường có thể chứng kiến lượng cổ phiếu ngân hàng gia tăng đáng kể, qua đó tạo áp lực nhất định lên giá cổ phiếu.

Theo báo cáo “Triển vọng ngành Ngân hàng 2026” của S&I Ratings, sau năm 2025 ghi nhận tăng trưởng tín dụng khoảng 19,1% - mức cao nhất trong hơn một thập kỷ - ngành ngân hàng đang bước vào giai đoạn tái cân bằng mới. Báo cáo cho thấy, lợi nhuận toàn ngành có thể tăng khoảng 16% trong năm 2026, nhưng áp lực thanh khoản, chu kỳ lãi suất mới và sự phân hóa trong hạn mức tăng trưởng tín dụng đang tái định hình triển vọng cổ phiếu ngân hàng.

Trong bối cảnh cơ quan quản lý duy trì định hướng điều hành thận trọng nhằm đảm bảo ổn định hệ thống tài chính, room tín dụng trở thành yếu tố cạnh tranh quan trọng. Nhóm ngân hàng tham gia tái cơ cấu tổ chức tín dụng yếu kém như HDBank, VPBank, MB và Vietcombank tiếp tục được hưởng hạn mức cao hơn, trong khi nhiều ngân hàng khác chỉ được phân bổ khoảng 11-13% vào đầu năm.

Ngoài ra, lãi suất đang bước vào giai đoạn điều chỉnh mới. Sau thời gian dài duy trì ở mức thấp để hỗ trợ nền kinh tế, lãi suất huy động bắt đầu tăng từ cuối năm 2025 khi áp lực thanh khoản gia tăng. Nếu xu hướng này tiếp tục, lãi suất cho vay có thể tăng thêm 1-3%, qua đó ảnh hưởng đến nhu cầu tín dụng. Trong bối cảnh đó, những ngân hàng có lợi thế chi phí vốn và tỷ lệ CASA cao được đánh giá có khả năng duy trì biên lãi ròng (NIM) tốt hơn.

Cổ phiếu ngân hàng bước vào giai đoạn chọn lọc

Cổ phiếu ngân hàng trong năm 2026 sẽ mang gam màu bền vững hơn nhưng cũng mang tính chọn lọc cao hơn.

Cổ phiếu ngân hàng trong năm 2026 được nhận định sẽ mang gam màu mới: bền vững hơn và mang tính chọn lọc cao hơn. Động lực tăng trưởng của các nhà băng không chỉ đến từ chất lượng tài sản hay bộ đệm vốn, mà còn từ các yếu tố đột biến như M&A, tái cơ cấu hoặc mở rộng dư địa lợi nhuận mới.

Theo PGS.TS Nguyễn Hữu Huân, Phó chủ tịch Cơ quan điều hành Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam tại TP.HCM, cổ phiếu ngân hàng thời gian tới sẽ chịu tác động mạnh từ những câu chuyện riêng như M&A hoặc tái cấu trúc vốn. Thực tế cho thấy, dòng tiền đầu tư thường tập trung vào các mã có yếu tố đột biến này, trong khi những ngân hàng kinh doanh ổn định nhưng thiếu câu chuyện riêng khó có thể tạo ra sự bùng nổ về giá.

Bên cạnh đó, nguồn thu ngoài lãi của các nhà băng cũng được kỳ vọng gia tăng khi thị trường vàng được xóa bỏ độc quyền và các ngân hàng có vốn điều lệ từ 50.000 tỷ đồng trở lên được phép sản xuất - kinh doanh vàng. Ngoài ra, triển vọng từ thị trường tài sản số cũng đang mở ra. Nếu hành lang pháp lý cho tài sản mã hóa được thông qua và các sàn giao dịch được cấp phép trong năm 2026, ngân hàng có thể đóng vai trò trung tâm trong hạ tầng thanh toán và quản lý dòng tiền giao dịch, mở ra dư địa tăng trưởng mới.

Theo ông Bùi Văn Huy, Phó chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc Khối Nghiên cứu đầu tư tại Công ty cổ phần FIDT, trong bức tranh phân hóa của thị trường năm 2026, nhóm ngân hàng vẫn được xem là điểm đến quan trọng của dòng tiền thông minh, nhưng khẩu vị đầu tư sẽ trở nên chọn lọc hơn.

Trong đó, CTG và MBB được đánh giá là những lựa chọn tiềm năng và an toàn để dẫn dắt xu hướng đầu tư trong năm 2026, đồng thời đóng vai trò trụ đỡ cho danh mục khi thị trường bước vào giai đoạn tích lũy.

Giới phân tích cho rằng, mục tiêu tăng trưởng tín dụng khoảng 15% trong năm 2026 đi kèm định hướng điều hướng dòng vốn vào lĩnh vực sản xuất - kinh doanh nhằm hỗ trợ tăng trưởng bền vững. Nghị quyết 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân ban hành năm 2025 đã xác định khu vực này là động lực tăng trưởng quan trọng.

Trong bối cảnh đó, hệ thống ngân hàng tiếp tục giữ vai trò kênh dẫn vốn trung tâm. Định hướng tín dụng thời gian tới không chỉ mở rộng quy mô mà còn ưu tiên chất lượng phân bổ vốn, giúp dòng vốn gắn chặt hơn với các hoạt động tạo ra giá trị thực và giảm dần sự phụ thuộc vào các lĩnh vực mang tính đầu cơ, đặc biệt là bất động sản.

Diễn biến này được đánh giá thuận lợi cho những ngân hàng có hệ sinh thái khách hàng doanh nghiệp, khả năng cung cấp dịch vụ tài chính toàn diện và năng lực quản trị rủi ro theo dòng tiền thực tế, qua đó mở ra cơ hội hưởng lợi từ cả tăng trưởng tín dụng lẫn nguồn thu từ hoạt động dịch vụ.

Đồng thời, việc luật hóa cơ chế xử lý nợ xấu theo tinh thần Nghị quyết 42/2017/QH14 được kỳ vọng giúp các ngân hàng nâng cao hiệu quả thu hồi nợ và cải thiện chất lượng bảng cân đối. Song song với đó, việc triển khai các quy định tiệm cận Basel III cũng góp phần nâng cao năng lực quản trị rủi ro và tăng cường ổn định của hệ thống tài chính.

Thùy Vinh

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục