Bài toán tiền tệ
Theo ông Nguyễn Đại Lai, Phó vụ trưởng Vụ Chiến lược phát triển ngân hàng (NHNN), tốc độ tăng cung tiền M2 (gồm tổng tiền mặt và tiền gửi ngân hàng) của Việt Nam tính dồn từ 2005 đến 2007 tăng tới 92% (trong đó: 2005 tăng: 23,34%; 2006 tăng 33,59% và 2007 ước tăng 35%). Cũng trong giai đoạn 2005-2007, GDP tăng tích luỹ khoảng 24,84% (2005: 8%; 2006: 8,4% và 2007: 8,44%).
Cũng theo ông Lai, tốc độ tăng M2 trong 3 năm qua đã gấp 3,7 lần tốc độ tăng GDP là quá cao so với tỷ lệ này tại các nước trong khu vực thường không lớn hơn 2,5 lần.
Về nguyên tắc, khi kinh tế tăng trưởng thì cung tiền cũng phải tăng theo một cách tương ứng. Nhưng trong trường hợp này, khi mức tăng của tổng sản phẩm quốc gia chỉ bằng 1/3 so với mức tăng cung tiền thì lạm phát cao là đương nhiên.
Theo các chuyên gia ngành ngân hàng, một trong những lý do dẫn tới sự tăng mạnh của cung tiền là do NHNN đã “bơm” rất nhiều tiền đồng ra mua USD trên thị trường. Chỉ riêng sáu tháng đầu năm 2007, NHNN đã mua vào 7 tỷ USD (tương đương với 112.000 tỷ đồng).
Từ cuối năm 2007 tới nay, do lo ngại gây thêm áp lực lạm phát vốn đã ở tình trạng báo động, NHNN đã hạn chế trong việc tung VND ra để “ôm” thêm USD từ các ngân hàng thương mại, khiến nhiều ngân hàng thương mại rơi vào tình trạng thiếu tiền đồng nội tệ và thừa USD, phải chấp nhận lãi suất huy động nói chung, lãi suất VND qua đêm nói riêng tăng đột biến.
Cung ngoại tệ lớn đã gây áp lực giảm tỷ giá. Trong báo cáo mới nhất về Việt Nam ra ngày 8/1/2008, Ngân hàng HSBC đã dự báo tỷ giá VND/USD sẽ giảm khoảng 1% trong năm 2008 sau khi đã giảm 0,3% năm 2007.
Hiển nhiên tỷ giá giảm (có nghĩa đồng Việt Nam lên giá so với USD) là điều NHNN không muốn do ảnh hưởng tiêu cực của nó tới tính cạnh tranh trong xuất khẩu của Việt Nam . Vậy làm thế nào để “hấp thụ” được nguồn cung USD ngày càng lớn này?
Và lời giải
Ông Lai mới đây đã đưa ra một giải pháp hoàn toàn mới sẽ được kiến nghị lên Thống đốc NHNN trong thời gian tới: phát hành trái phiếu ngoại tệ trong nước. Theo đó, NHNN tham mưu cho Chính phủ có cơ chế cho phép không chỉ là trái phiếu ngoại tệ của Chính phủ, mà cả các doanh nghiệp, các tập đoàn kinh tế có uy tín, có nhu cầu ngoại tệ chính đáng cũng được phép phát hành để huy động ngoại tệ trôi nổi trong nền kinh tế và cả ngoại tệ được coi là “thừa” tại các ngân hàng thương mại.
Với cơ chế này, NHNN vừa có thể “hút” về USD, vừa tránh đưa thêm tiền đồng ra lưu hành, góp phần ổn định được tỷ giá và đa dạng hoá cơ cấu dự trữ ngoại tệ tại cả ngân hàng thương mại và NHNN. Theo Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Giàu, giải pháp này đã được áp dụng tại Trung Quốc nhưng “để có thể áp dụng vào Việt Nam cần thêm nhiều nghiên cứu và thảo luận”.
Còn theo bà Prakriti Sofat, chuyên gia kinh tế châu Á của HSBC nhận định, nếu giải pháp này được áp dụng một cách hiệu quả sẽ là một công cụ hữu hiệu của NHNN trong việc điều hành chính sách tiền tệ.
“Tôi đồng ý đây là một giải pháp khá hợp lý nhưng vấn đề là NHNN 'hút' về được bao nhiêu USD mới là vấn đề cần bàn,” bà Sofat nhận định.
Theo một chuyên gia ngân hàng, vấn đề là liệu lãi suất của trái phiếu có đủ hấp dẫn với thị trường. Nếu NHNN đưa ra một mức lãi suất hấp dẫn, khi đó áp lực sẽ thuộc về NHNN trong việc làm thế nào sử dụng nguồn vốn đó một cách hiệu quả.
Bên cạnh đó, Tai Hui, Trưởng bộ phận ngiên cứu kinh tế khu vực Đông Nam Á của Ngân hàng Standard Chartered cho biết, nếu chính sách này được thực hiện đòi hỏi NHNN phải có một cơ chế quản lý linh hoạt hơn để có thể “bơm” ngược USD trở lại thị trường khi cần.
Hơn nữa, các chuyên gia đều cho rằng, biện pháp này chỉ giải quyết được một mặt của vấn đề là “bơm” và “hút” ngoại tệ trong khi hiện nay, nhu cầu tiền đồng từ các quỹ đầu tư nước ngoài và nhu cầu chuyển đổi từ nguồn kiều hối vẫn đang tăng mạnh.
“NHNN nên kết hợp thêm các giải pháp khác như tăng dự trữ bắt buộc mới có thể kiểm soát được lạm phát trong năm nay,” bà Sofat nhận định.